WorkTime.vn là nền tảng giao tiếp và làm việc trực truyến trên máy tính và di động cho các doanh nghiệp, mang lại cho doanh nghiệp một giải pháp toàn diện cho việc giao tiếp nội bộ, quản lý tài nguyên, và quản trị doanh nghiệp.
92% những người đi làm thuộc thế hệ 8X và 9X đặc biệt quan tâm đến văn hóa làm việc linh hoạt.
Chẳng ai muốn mình bị ràng buộc hay áp đặt trong một giới hạn nào đó. Sự tự do không chỉ là nhu cầu cơ bản của con người mà trong công việc nó có tác dụng thúc đẩy hiệu quả làm việc của nhân viên.
Nguồn ảnh minh họa: wagepoint
Theo khảo sát của Viên nghiên cứu Forrester Research của Hoa Kỳ, 92% những người đi làm thuộc thế hệ 8X và 9X đặc biệt quan tâm đến văn hóa làm việc linh hoạt, nơi mà họ có thể lựa chọn địa điểm và thời gian làm việc.
Nathaniel Koloc, đồng sáng lập và CEO của công ty ReWork, là một trong những người chủ trương ủng hộ chính sách tăng quyền tự do cho nhân viên. Ông đã chỉ ra nhiều lợi ích cho công ty khi cho phép nhân viên được tự do và linh hoạt trong công việc. Theo Koloc, những công ty cho phép nhân viên làm việc ở nhà ít nhất 3 lần/tháng thường có báo cáo doanh thu tăng trưởng 10% hoặc hơn so với các công ty không có chính sách này.
Ông đưa ra ví dụ về công ty game của Mỹ, Valve (cũng là công ty game được mong muốn làm việc nhất thế giới). Valve công nhận những thành công đạt được nhờ chính sách làm việc mở như nhân viên tự do lựa chọn dự án mà họ muốn tham gia và tự lựa chọn vai trò của họ trong dự án. Valve cũng công nhận rằng đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của họ trong việc thu hút và giữ chân nhân tài.
Tại ReWork, mỗi năm nhân viên có 4 tuần nghỉ phép được trả lương, 4 tuần được linh động làm việc từ xa và không giới hạn phép nghỉ bệnh. Hay ở hãng truyền thông NationSwell, nhân viên chỉ phải đến văn phòng để làm việc cùng nhau vào thứ 2, các ngày còn lại trong tuần họ tự do làm việc tại quán cà phê hay bất cứ nơi nào họ cảm thấy thoải mái và hiệu quả nhất.
Một số những công ty công nghệ và truyền thông như 37Signals, Mozilla, UpWorthy, Universal Mind, StackExchange, GitHub và Treehouse nổi tiếng với đội ngũ làm việc trên khắp thế giới – cũng là một trong những lợi thế giúp họ tuyển dụng nhân tài ở bất kỳ nơi nào.
Bên cạnh cho phép làm việc ở nhà, có nhiều cách khác nhau để tăng quyền tự do cho nhân viên. Nếu bạn đang cân nhắc về chính sách này cho nhân viên, Koloc chia sẻ 3 gợi ý sau cho bạn:
Hãy hỏi nhân viên của bạn
Tùy theo tính chất ngành nghề, sản phẩm dịch vụ của công ty bạn hay yếu tố về địa lý, nhu cầu tự do của nhân viên sẽ khác nhau. Bên cạnh một số chính sách thường áp dụng như làm việc ở nhà hay nghỉ phép được trả lương, bạn có thể cho phép họ lựa chọn công việc hay dự án họ muốn tham gia, tự do lựa chọn cơ hội đào tạo,…Với quy mô công ty lớn, bạn có thể thực hiện khảo sát dựa trên các ý kiến đã được hỏi trước đó.
Tìm hiểu và sử dụng các công cụ giao tiếp từ xa
Ngày nay, không khó để tìm thấy những công cụ giao tiếp từ xa như Skype, Slack, ChatWork hoặc các trang mạng xã hội như Facebook Messenger. Đây cũng là những công cụ hỗ trợ tuyệt vời cho những ai làm việc từ xa, đảm bảo giao tiếp liên tục và hiệu quả ngay cả khi bạn không ở ngay bên cạnh nhân viên của bạn.
Truyền đạt lợi ích này cho nhân viên và ứng viên
Hãy đảm bảo tất cả nhân viên đều nhận thức được lý do, lợi ích cũng như mong đợi của công ty khi ban hàng bất kỳ chính sách tăng quyền tự do. Đừng quên bổ sung chính sách này vào trong bảng mô tả công việc của các vị trí đăng tuyển để thu hút ứng viên. Chính sách tự do của bạn càng hợp lý càng nâng cao thương hiệu tuyển dụng của bạn.
Khi giao tiếp nội bộ và phối hợp làm việc trực tuyến hiệu quả với WorkTime, công ty bạn có thể hoạt động trơn tru giữa các nhân viên làm việc tại các địa điểm khác nhau, mà vẫn tạo ra được một môi trường linh hoạt cởi mở, tạo cơ hội giúp nhân viên tăng năng suất cá nhân. Tìm hiểu về WorkTime tại: http://worktime.vn
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
“Do things that don’t scale” (làm những việc mà không nhân rộng ra được) đã trở thành câu “thần chú” cho startups. Hãy cùng WorkTime tiếp tục đọc phần cuối của những chia sẻ về những việc làm nhỏ nhặt nhất nhưng mang lại những ý nghĩa lớn lao sau này cho các startup nổi tiếng và bài học mà các startup mới có thể học được theo những trải nghiệm của Paul Graham ở Y-Combinator.
Giải quyết kiểu thủ công - Manual
Có một mức độ cực đoan hơn cả việc chỉ sử dụng phần mềm, đó là chính bạn là phần mềm (tức là bạn tự làm bằng tay). Khi bạn chỉ có một số lượng nhỏ người dùng, đôi khi bạn có thể làm mọi việc bằng tay trước, sau đó bạn có thể lên kế hoạch viết phần mềm tự động hóa sau này. Điều này giúp bạn tung ra sản phẩm nhanh hơn, và khi bạn hoàn toàn thoát khỏi vòng lặp của các công việc đó, bạn sẽ biết chính xác cái gì cần xây dựng vì bạn đã nhớ rất rõ những điều này khi tự mình thực hiện chúng.
Ví dụ như khi Stripe mang đến dịch vụ tài khoản “tức thì” cho những người sử dụng đầu tiên, thì đó chính là các nhà sáng lập của họ đã tự đăng ký chứ không phải ai khác.
Một số startup hoàn toàn tự làm mọi thứ thủ công từ ban đầu. Nếu bạn có thể tìm ai đó với một vấn đề cần giải quyết và bạn có thể tự tay giải quyết, thì hãy làm luôn và miễn là bạn có thể, rồi sau đó dần dần tự động hóa giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Nó có thể có một chút đáng sợ khi giải quyết những vấn đề của người sử dụng theo cái cách mà chưa hoàn toàn tự động (tức là bạn mất nhiều công sức) nhưng sẽ đỡ đáng sợ hơn là bạn có một công cụ hoàn toàn tự động nhưng lại không giải quyết được vấn đề cho ai cả.
Hoành tráng - Big
Tôi nên đề cập đến một loại chiến thuật không hiệu quả: tung sản phẩm ra một cách hoành tráng (Big Launch). Tôi thỉnh thoảng gặp một số nhà sáng lập, những người mà dường như tin rằng startup là viên đạn chứ không phải một tên lửa có gắn động cơ. Và họ sẽ phát triển bằng cách tạo cho viên đạn đó một vận tốc ban đầu đủ lớn. Họ muốn tung ra sản phẩm ra đồng thời trên 8 kênh truyền thông khác nhau và vào thứ Ba, tất nhiên, khi họ đọc được ở đâu đó rằng đó là ngày lý tưởng để tung ra sản phẩm.
Bạn cũng phải thừa nhận rằng mình không thể nhớ được một lần ra mắt chính thức sản phẩm nào của một vài startup thành công. Tất cả những điều bạn cần từ việc ra mắt sản phẩm (launching) là một vài người dùng cốt lõi đầu tiên. Việc vài tháng sau đó bạn có làm tốt hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ hài lòng bạn đã tạo ra cho những người dùng này của mình hơn là số lượng người dùng mà bạn đã có.
Vậy tại sao một số nhà sáng lập lại nghĩ rằng việc ra mắt sản phẩm là quan trọng? Đó là sự kết hợp của việc suy diễn và sự lười biếng. Họ nghĩ rằng cái họ đang xây dựng thật là hoành tráng đến nỗi mà mọi người khi nghe thấy sẽ lập tức đăng ký và sử dụng. Thêm nữa, sẽ giảm đi một số lượng việc đáng kể nếu bạn chỉ đơn thuần có được người dùng bằng cách cho họ biết sự tồn tại của bạn hơn là việc tìm kiếm từng người. Nhưng kể cả nếu bạn đã làm rất rất tốt, việc có được người dùng sẽ luôn cần thời gian (muốn nhanh thì phải từ từ là như vậy). Một phần vì những điều tuyệt vời thường sẽ mới lạ, nhưng chủ yếu là bởi vì người dùng còn có nhiều thứ khác để nghĩ đến.
Việc hợp tác (partnership) với đối tác lớn cũng thường không hiệu quả. Việc này không hiệu quả nói chung đối với startup, nhất là đối với cách phát triển ở bước đầu. Đó là những sai lầm phổ biến của các nhà sáng lập thiếu kinh nghiệm khi tin rằng việc hợp tác với các công ty lớn sẽ là một bước tiến lớn của họ. Sáu tháng sau, họ sẽ cùng chua xót phát biểu: “Việc hợp tác đó hiệu quả hơn chúng tôi mong đợi rất nhiều, và bây giờ chúng tôi chả còn cái của khỉ gì ngoài nó cả”.
Việc làm gì đó phi thường lúc ban đầu là không đủ. Bạn phải nhận ra bạn cần một “nỗ lực phi thường” cho thời điểm ban đầu. (Không thể lười biếng !!). Tất cả các chiến lược bỏ qua nỗ lực miệt mài (ví dụ như tung ra sản phẩm một cách hoành tráng/hay hợp tác với một đối tác lớn) sẽ có thể dẫn đến thất bại.
Vector (Vector có 2 thành tố là Hướng và Độ lớn)
Sự cần thiết là phải làm điều gì đó để khởi đầu gần như là phổ biến, việc này nó có thể là một ý hay, hãy dừng nghĩ về ý tưởng startup một cách vô hướng. Thay vào đó, chúng ta hãy nghĩ ý tưởng startup đi đôi với (1) việc bạn sẽ xây dựng cái gì, cộng với (2) những việc nho nhỏ bạn sẽ làm lúc ban đầu để khiến cho startup hoạt động.
Nó có thể thú vị hơn bằng việc bắt đầu nhìn nhận ý tưởng startup theo cách này vì giờ đây có hai nhân tố bạn có thể cố gắng để phát huy trí tưởng tượng. Trong hầu hết các trường hợp, nhân tố sau (những thứ nho nhỏ bạn sẽ làm lúc ban đầu) – sẽ đem đến những người dùng đầu tiên và việc này sẽ đem đến cho họ những trải nghiệp đáng nhớ - Lợi ích chính của việc coi startup như một Vector chính là nhắc nhở nhà sáng lập, họ cần phải làm việc chăm chỉ trên cả hai phương diện.
Trong trường hợp tốt nhất, cả hai thành tố của vector góp phần tạo ra ADN của công ty bạn: việc nhỏ bạn phải làm để bắt đầu không nhất thiết là không tốt, mà thực sự nó thay đổi công ty trong dài hạn để thực sự tốt hơn. Nếu bạn phải tích cực thu hút người dùng khi startup của bạn còn nhỏ, thì có thể bạn sẽ vẫn tích cực làm điều đó khi bạn to lớn. Nếu bạn phải tự chế tạo phần cứng của bạn hoặc tự trải nghiệm phần mềm trên thay cho khách hàng, bạn cũng sẽ học được những điều bạn không thể học bằng cách khác.
Và quan trọng nhất, nếu bạn phải làm việc chăm chỉ để làm hài lòng người dùng khi bạn chỉ có một số ít trong số họ, bạn sẽ tiếp tục làm việc đó khi bạn có rất nhiều người dùng sau này.
“Do things that don’t scale” (làm những việc mà không nhân rộng ra được) đã trở thành câu “thần chú” cho startups. Hãy cùng WorkTime tiếp tục đọc những chia sẻ về những việc làm nhỏ nhặt nhất nhưng mang lại những ý nghĩa lớn lao sau này cho các startup nổi tiếng và bài học mà các startup mới có thể học được theo những trải nghiệm của Paul Graham ở Y-Combinator.
Trải nghiệm - Experience
Tôi đã cố gắng để nghĩ ra một cụm từ để diễn tả mức độ mà bạn nên quan tâm đến người dùng của mình, và tôi nhận ra Steve Jobs là người đã làm được điều đó: đỉnh tới mức điên rồ (insanely great). Steve đã không sử dụng “insanely” (một cách điên rồ) như một từ đồng nghĩa với “very” (rất). Mà ý ông có nghĩa là điều đó thực sự phải tập trung vào chất lượng của việc thực hiện đến mức độ mà nó có thể làm thay đổi cuộc sống hàng ngày một cách tốt hơn.
Tất cả các startup thành công nhất mà chúng tôi đã đầu tư đều có được trình độ quan tâm đến người dùng như thế này, và điều này thì không có gì lạ với những người mong muốn trở thành một nhà sáng lập trong tương lai. Điều mà những nhà sáng lập mới không nhận ra, đó là việc truyền sự “insanely great” vào trong starup của họ ngay từ ban đầu. Khi Steve sử dụng cụm từ này, Apple Inc đã là một công ty nổi tiếng. Ý ông khi nói về máy tính Mac (và cả những tài liệu đi kèm nó và cả việc đóng gói) phải thật sự “ám ảnh” khách hàng bởi việc thiết kế và hoàn thiện đỉnh của đỉnh (insanely well design and manufactured). Điều này không khó hiểu với các kỹ sư. Nó chỉ là một cách thể hiện tuyệt đối hơn cho việc thiết kế và hoàn thiện phải thực sự chất lượng và nuột nà đến cực đỉnh.
Điều gây khó khăn cho các nhà sáng lập (và ngay cả chính Steve khả năng cũng gặp phải) là hình dung được những gì “insanely great” đã trở thành sau này khi nhìn lại những ngày đầu của startup. Đó không phải là do sản phẩm hoàn hảo, mà chính là sự trải nghiệm của người dùng của bạn. Sản phẩm chỉ là một phần của sự trải nghiệm đó. Đối với một công ty lớn thì quả thật đó nhất thiết phải là một sự ưu tiên. Nhưng bạn có thể và nên trao cho user của bạn những trải nghiệm tuyệt vời ngay từ những ngày đầu, kể cả khi sản phẩm không hoàn hảo hay chưa thực sự hoàn thiện, bạn sẽ thành công nếu tạo ra sự khác biệt có chủ ý.
Bạn có thể làm điều đó không? Có lẽ là có thể làm được.
Nhưng tốt nhất có nên làm như vậy không? – Câu trả lời là Có.
Gắn kết với người dùng ban đầu không chỉ là một phương pháp để tạo đà cho tăng trưởng. Đối với các startup thành công, đó là một phần cần thiết tạo ra những ý kiến phản hồi không ngừng của người dùng để giúp làm sản phẩm tốt hơn. Tạo ra một phép thử sản phẩm không phải là một điều nhỏ nhặt. Ngay cả khi bạn khởi đầu bằng việc những startup thành công nhất làm, bằng việc xây dựng cái bản thân bạn cần, thì những thứ đầu tiên bạn xây dựng cũng chưa hẳn đã tốt ngay. Ngoại trừ việc đặt tên miền, những việc khác hầu như không hướng đến mục đích hoàn hảo ngay từ ban đầu. Đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm, điều tốt nhất là mang đến cho người dùng những tính năng cơ bản đầu tiên ngay khi sản phẩm có công dụng, và xem xem người dùng làm gì với nó. Cầu toàn chỉ là cái cớ để trì hoãn, trong mọi trường hợp, người dùng ban đầu hầu như chưa thể xác định được ngay kể cả bạn có là một trong số họ.
Phản hồi bạn có từ việc tương tác trực tiếp với những người dùng đầu tiên sẽ là những điều vô giá mà bạn có. Khi bạn trở thành một công ty lớn, bạn phải dùng cách nghiên cứu theo các nhóm, lúc đó ạbn sẽ ước bạn có thể đến nhà hay văn phòng của user để quan sát họ khi họ sử dụng như bạn đã từng làm khi chỉ có một ít trong số họ.
Ngọn lửa - Fire
Đôi khi bí quyết đúng đắn (mà vẫn là một việc không nhân rộng được) là tập trung vào một thị trường thật hẹp. Nó giống như bạn giữ ngọn lửa nhỏ cho thật nóng trước khi thêm củi vào để bùng cháy.
Đó chính là điều mà Facebook đã làm. Đầu tiên Facebook chỉ dành cho sinh viên Harvard. Họ cho rằng sản phẩm này thực sự là của họ, do đó đã có một số lượng lớn tới vài nghìn người trong số đó đăng ký. Sau khi Facebook dừng việc chỉ cho sinh viên Harvard, nó vẫn được duy trì cho một số lượng nhất định các trường đại học trong một thời gian. Khi tôi phỏng vấn Mark Zuckerberg tại Startup School, anh ấy nói rằng anh đã phải tạo ra hàng tá danh sách cho mỗi trường để tạo ra được một trang web thân thiện khiến cho sinh viên gắn bó như ngôi nhà thứ hai của họ.
Bất kỳ startup nào có thị trường lớn thì đều phải bắt đầu từ một thị trường con. Sẽ rất đáng để đặt câu hỏi: Có một thị trường nhỏ nào mà chúng ta có thể tiếp cận được số lượng user lớn một cách nhanh chóng?
Hầu hết các startup sử dụng chiến lược ngọn lửa này đều bắt đầu một cách vô thức. Họ tạo ra một cái gì đó cho chính họ và bạn bè, những user đầu tiên, và chợt nhận ra sau đó là họ có thể mang sản phẩm đó đến một thị trường rộng lớn hơn. Chiến lược này càng hiệu quả nếu bạn thực sự làm điều đó một cách vô thức. Sẽ cần phải chú ý về điều này, bởi nếu bạn không tạo ra một sản phẩm cho chính mình và bạn bè, hoặc bạn có tạo ra sản phẩm nhưng bạn bè của bạn không phải là những user đầu tiên, thì bạn sẽ không còn ở trong một thị trường ban đầu hoàn hảo nữa.
Trong số các công ty, thì người dùng đầu tiên lý tưởng nhất chính là các startup khác. Họ là những người rất thoải mái đón nhận những cái mới vì họ mới vừa bắt đầu và họ hầu như chưa đưa ra lựa chọn. Thêm nữa, khi họ lớn mạnh, họ sẽ phát triển rất nhanh và bạn sẽ phát triển cùng với họ. Đây là một trong những lợi thế không lường trước được của mô hình Y Combinator (YC) và đặc biệt giúp cho YC trở nên lớn mạnh. B2B startup của YC hiện nay có một thị trường ngay lập tức với hàng trăm các startup khác nhau đã sẵn sàng trong tầm tay.
Học tập Meraki
Đối với các startup về phần cứng, có một biến thể về việc làm những việc không nhân rộng mà chúng ta gọi là làm như Meraki. Mặc dù chúng tôi không đầu tư cho Meraki, nhưng do nhà sáng lập là sinh viên của Robert Morris nên chúng tôi biết câu chuyện của họ. Họ đã bắt đầu bằng việc thực sự nhỏ, đó là tự lắp ráp các bộ routers.
Các startup về phần cứng phải đối mặt với vấn đề mà các startup phần mềm không có. Đó là việc đặt hàng tối thiểu cho việc sản suất ở nhà máy thường lên đến vài trăm ngàn đô/đơn hàng. Điều này dẫn đến việc (mà chúng tôi gọi là catch-22) nếu không có sản phẩm, bạn không thể tạo ra một sự tăng trưởng cần thiết để có thể có tiền cho việc sản xuất sản phẩm. Trước đây khi startup phần cứng phải dựa vào các nhà đầu tư về tiền và cần phải có khả năng thuyết phục tốt. Giờ đây, sự xuât hiện của crowdfunding (*gọi vốn cộng đồng - ND) (hay về bản chất chính xác hơn là các đơn đặt hàng trước) đã giải quyết khá tốt vấn đề này. Nhưng ngay cả như vậy, tôi vẫn muốn khuyên các startup làm như Meraki lúc ban đầu nếu họ có thể. Đó là điều mà Pebble đã làm. Nếu Pebbles không tự lắp ráp hàng trăm chiếc đồng hồ đầu tiên, họ có thể đã không bán được 10 triệu USD khi họ xuất hiện trên Kickstarter (kênh gọi vốn crowdfunding nổi tiếng).
Giống như việc chú ý đến những khách hàng đầu tiên, tự chế tạo những sản phẩm đầu tiên hóa ra lại tạo nên những giá trị ban đầu cho startup về phần cứng. Bạn có thể tinh chỉnh nhanh hơn nhiều khi bạn trực tiếp làm, và bạn có thể học được những điều bạn chưa bao giờ nghĩ đến. Eric Migicovsky nhấn mạnh anh đã học được rất nhiều từ giá trị của nguồn lực tự chế tạo với Pebble.
Tư vấn - Consult
Đôi lúc chúng tôi tư vấn cho những nhà sáng lập của các startup B2B về việc cần phải cực kỳ gắn kết với người dùng, hãy chọn một user và coi họ như những người tư vấn chuyên nghiệp cho bạn để xây dựng một sản phẩm/dịch vụ gì đó như chỉ dành riêng cho họ. Hãy phục vụ khách hàng đầu tiên tốt nhất có thể và điều chỉnh sản phẩm của bạn đến khi nó phù hợp với nhu cầu khách hàng một cách hoàn hảo nhất và khi đó bạn sẽ nhận ra là bạn đã tạo ra một sản phẩm mà các user khác cũng muốn sử dụng. Ngay cả khi không có nhiều người dùng như vậy thì cũng sẽ có một vài khu vực lân cận có người dùng tiềm năng. Miễn là bạn có thể tìm thấy một người dùng có nhu cầu thực sự và muốn giải quyết được nhu cầu của họ, bạn sẽ có một chỗ đứng trong việc mang đến một cái gì đó hữu ích và đó là điều tốt nhất một startup cần lúc ban đầu.
Tư vấn là một ví dụ kinh điển của việc làm những việc nhỏ nhặt không nhân rộng được. Nhưng (cũng giống như làm việc tốt tự nguyện) việc này sẽ an toàn trong khoảng thời gian bạn sẽ không được trả công. Đó là khi công ty đạt đến điểm giới hạn. Trong khi bạn vẫn là một công ty mà đơn thuần giúp đỡ khách hàng một cách chu đáo, thì dù bạn không giải quyết được hết các vấn đề của họ, họ vẫn sẽ thầm cảm ơn bạn. Nhưng khi họ phải trả tiền cho sự chu đáo đó, và nhất là khi phải trả tiền theo giờ, thì họ sẽ mong muốn bạn làm tốt tất cả mọi việc.
Một ví dụ của kỹ thuật tư vấn dành cho việc tìm kiếm những người dùng thờ ơ là tự sử dụng sản phẩm của mình thay cho họ. Chúng tôi đã làm việc này tại Viaweb. Khi chúng tôi tiếp cận một vài doanh nghiệp và hỏi họ có muốn sử dụng sản phẩm của chúng tôi để tạo gian hàng trực tuyến (online store), một số đã nói không, nhưng họ sẽ vẫn đồng ý để chúng tôi tạo một cái cho họ. Và vì chúng tôi muốn làm mọi thứ để có được người dùng, chúng tôi đã làm việc đó. Thực sự chúng tôi cảm thấy khá hổ thẹn vào lúc đó. Thay vì tổ chức hợp tác chiến lược với các tổ chức thương mại điện thử khác, chúng tôi đã phải cố gắng bán những thứ vụn vặt như bút hay quần áo dành chon nam. Nhưng khi nhìn lại, đây lại chính xác là những điều cần phải làm. Vì nó dạy cho chúng tôi biết cảm giác của người dùng khi sử dụng sản phẩm của mình. Đôi khi những vòng lặp phản hồi của khách hàng đến như ngay tức khắc. Ở giữa những thời điểm xây dựng trang web cho người dùng đầu tiên, tôi đã tìm thấy tôi cần những tính năng gì mà chúng tôi chưa có, và ngay lập tức chúng tôi dành thời gian xây dựng nó và tiếp tục hoàn thiện website.
Paul Graham (sinh năm 1964) là một lập trình viên và nhà đầu tư mạo hiểm. Paul nổi tiếng với việc sáng lập nên Viaweb (sau này Yahoo mua lại và đổi thành Yahoo! Store) và sáng lập của Y-Combinator – quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ dành đầu tư vào các ý tưởng mới. Cùng với Guy Kawasaki, Paul Graham được biết đến như là một trong hai tượng đài sống trong giới khởi nghiệp công nghệ.
“Do things that don’t scale” (làm những việc mà không nhân rộng ra được) đã trở thành câu “thần chú” cho startups. Hãy cùng WorkTime đọc những chia sẻ về những việc làm nhỏ nhặt nhất nhưng mang lại những ý nghĩa lớn lao sau này cho các startup nổi tiếng và bài học mà các startup mới có thể học được theo những trải nghiệm của Paul Graham ở Y-Combinator.
Paul Graham
Tháng 7, 2013
Một trong những lời tư vấn phổ biến và hữu ích nhất tại Y Combinator là hãy làm những việc nhỏ nhặt nhất nhưng ý nghĩa lớn. Rất nhiều nhà sáng lập tin rằng startup chỉ có hai con đường phát triển: thành công hoặc là không là gì. Bạn xây dựng thứ gì đó, ra mắt sản phẩm, và mang ra thử thị trường. Sẽ có 2 trường hợp, một là mọi người sẽ dùng sản phẩm, như vậy bạn đã làm tốt. Hoặc họ thậm chí không buồn dùng thử, trong trường hợp này, thị trường cho sản phẩm của bạn không tồn tại.
Trong thực tế, startup phát triển là vì những nhà sáng lập làm cho nó phát triển. Có thể có một số ít sản phẩm tự nó phát triển, nhưng rõ ràng nó phải cần một số thứ để thúc đẩy nó. Một ẩn dụ phù hợp trong trường hợp này đó là tay quay động cơ ô tô đã có trước khi người ta nghĩ ra việc khởi động điện. Một khi động cơ hoạt động, nó sẽ tiếp tục tự hoạt động, nhưng đã có một quá trình riêng biệt để khởi động và một khoảng thời gian để cho động cơ hoạt động.
Tìm người dùng đầu tiên - Recruit
Một trong những thứ quy mô nhỏ mà những nhà sáng lập phải làm ngay từ đầu là tự tìm kiếm người sử dụng. Gần như tất cả startup phải làm như vậy. Bạn không thể đợi người sử dụng đến tìm bạn, bạn phải ra ngoài và tìm đến họ.
Stripe là một trong những startup thành công chúng tôi (Y Combinator - ND) đầu tư. Vấn đề họ giải quyết là một vấn đề cấp bách. Nếu có một sản phẩm có thể ngồi một chỗ và đợi người sử dụng tự tìm đến, thì đó chính là Stripe. Nhưng trong thực tế, họ đã nổi tiếng trong cộng đồng YC với việc tích cực thu hút người dùng.
Trong cộng đồng Y Combinator, những startup xây dựng sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp và startup khác thường sẽ có lợi thế là một “bể” khách hàng/người dùng tiềm năng có sẵn – đó chính là các công ty mà YC (Y Combinator) đầu tư. Và Stripe là ví dụ điển hình đã tận dụng thành công lợi thế này (Stripe là một nền tảng thanh toán nổi tiếng). Tại YC, chúng tôi đặt tên cho cách mà các nhà sáng lập của Stripe đã làm là "Collison installation" (Collison là họ của các nhà sáng lập của Stripe – các anh em nhà Collison). Rất nhiều nhà sáng lập sẽ hỏi mọi người “Bạn sẽ thử sản phẩm beta của tôi chứ?” và Nếu câu trả lời là có, thì “Thật tuyệt, để tôi gửi bạn đường link”. Nhưng những anh em nhà Collison đã không chờ đợi. Khi ai đó đồng ý thử sản phẩm của họ, họ lập tức mượn ngay laptop và cài đặt sản phẩm ngay tại chỗ.
Có hai lý do mà người sáng lập ghét phải ra ngoài và tìm kiếm những người sử dụng cá nhân đầu tiên. Một là sự kết hợp giữa nhút nhát và lười biếng. Họ thà ở nhà ngồi viết code còn hơn ra ngoài nói chuyện với một đống những người lạ và đa số là từ chối sử dụng sản phẩm của họ. Nhưng với một startup thành công, ít nhất một nhà sáng lập (và thường là CEO) sẽ phải dành nhiều thời gian cho Sales và Marketing.
Một lý do khác nhà sáng lập bỏ qua con đường này đó là các con số vào thời điểm đầu thường là nhỏ. Họ nghĩ những startup lớn và nổi tiếng khởi đầu phải “hoành tráng” hơn chứ không thể bé nhỏ như thế này. Sai lầm họ mắc phải là đánh giá thấp sức mạnh của tăng trường kép (compound growth). Chúng tôi khuyến khích mỗi startup hãy đo lường tỷ lệ tăng trưởng của họ (growth rate) hàng tuần. Nếu bạn có 100 user, bạn cần thêm 10 người trong tuần tới bằng mọi giá để đảm bảo tăng trưởng 10%/tuần. Con số tổng 110 có vẻ không có gì khác biệt với 100, nhưng bạn sẽ ngạc nhiên con số lớn mà bạn có được. Sau một năm, bạn sẽ có 14.000 user và sau 2 năm sẽ là 2 triệu người dùng.
Bạn sẽ tạo ra sự khác biệt khi bạn tạo ra hàng nghìn user một lần, và tăng trưởng đương nhiên sẽ có lúc chậm lại. Nhưng nếu thị trường tồn tại và bạn thường phải bắt đầu bằng cách tự tìm kiếm những user đầu tiên và sau đó dần dần chuyển sang phương pháp ít thủ công hơn.
Airbnb là ví dụ kinh điển về kỹ thuật này. Thị trường rất khó để gia nhập và bạn cần phải có những biện pháp “anh hùng cách mạng” ngay từ lúc đầu. Trong trường hợp của Airbnb, các biện pháp của họ bao gồm: kiên trì đến từng nhà ở New York, tìm kiếm người sử dụng mới và giúp user cũ cải thiện chất lượng cho phần giới thiệu nhà của họ. Tôi nhớ về Airbnb tại YC với hình ảnh họ trong chiếc túi du lịch, bời khi họ xuất hiện vào bữa tối ngày thứ ba thì thường họ vừa bay về từ đâu đó thôi.
Dễ vỡ - Fragile
Airbnb giờ đây có vẻ giống như một người khổng lồ không thể ngăn cản, nhưng ban đầu nó rất mong manh. Nếu như trong 30 ngày đầu, họ không trực tiếp ra ngoài và gắn kết với người dùng thì họ đã thất bại.
Đặc điểm mong manh không ổn định này không chỉ đặc trưng cho một mình Airbnb. Hầu như tất cả các sản phẩm startup đều như vậy cả. Và đó là điều lớn nhất mà những nhà sáng lập và các nhà đầu tư ít kinh nghiệm thường hiểu sai về startup. Họ vô tình đánh giá startup bằng những tiêu chuẩn của những người đã thành công, giống như nhìn vào một em bé sơ sinh mà kết luận “sinh vật nhỏ bé này sẽ không đạt được bất cứ thành tựu gì trong đời”.
Việc các phóng viên và những người tưởng mình biết hết mọi thứ coi thường ý tưởng và startup của bạn là bình thường, thậm chí vô hại. Họ sẽ hiểu sai. Thậm chí nếu nhà đầu tư cũng bỏ qua startup của bạn cũng bình thường; Họ sẽ thay đổi cách nhìn nhận khi họ thấy sự tăng trưởng. Điều đáng lo ngại nhất là chính bạn bỏ bê startup của bạn. Tôi đã từng nhìn thấy điều này. Tôi thường xuyên phải khuyến khích các nhà sáng lập, những người không nhìn thấy sự tiềm năng của cái họ đang thực hiện. Ngay cả Bill Gates cũng mắc sai lầm này. Bill đã quay trở lại Harvard cho kỳ học mua thu sau khi thành lập Microsoft. Bill đã không ở lại đây lâu, nhưng ông ấy sẽ không quay về nếu ông ấy nhận ra chỉ một phần quy mô tiềm năng của Microsoft sau này.
Những câu hỏi trong giai đoạn đầu không phải là ‘Công ty này sẽ thống trị thế giới” mà là “công ty này sẽ lớn như thế nào nếu nhà sáng lập thực hiện đúng những điều cần làm”, và những điều đúng đắn thường có vẻ như vừa mất thời gian và không quan trọng ở thời điểm đó. Microsoft không thể trông có vẻ ấn tượng khi chỉ có vài lập trình viên ở Albuquerque viết phần mềm thông dịch Basic cho một vài nghìn người có cùng sở thích. Nhưng khi nhìn lại, đó là con đường tối ưu để thống trị phần mềm máy tính. Và tôi biết Brian Chesky và Joe Gebbia (các nhà sáng lập của Airbnb) đã không cảm thấy như họ đang trên con đường đến kỷ nguyên mới khi phải đi chụp ảnh một cách chuyên nghiệp cho những căn hộ đầu tiên đồng ý cho thuê trên Airbnb. Họ chỉ đang cố tồn tại. Nhưng khi nhìn lại, điều đó lại cũng đúng là con đường tối ưu để thống trị một thị trường lớn.
Vậy làm thế nào để tự tìm kiếm những người sử dụng? Nếu bạn xây dựng thứ gì đó để giải quyết chính vấn đề của bạn, thì bạn chỉ cần tìm những người giống bạn, mà việc này thường là sẽ đơn giản. Nếu không, bạn sẽ cần thực hiện một số nỗ lực có chủ ý hơn để xác định nguồn người dùng hứa hẹn. Cách thông thường để làm điều đó là có được người dùng bằng cách thực hiện ra mắt một cách đại trà, sau đó quan sát những user có vẻ nhiệt tình nhất và tìm đến những người có cùng đặc điểm với họ. Ví dụ, Ben Silbermann thấy rằng rất nhiều người dùng đầu tiên của Pinterest thích thiết kế, và do đó ông đi đến một hội nghị các blogger thiết kế để tìm users, và cách đó rất chuẩn.
Sự vui thích - Delight
Bạn nên sử dụng những biện pháp đặc biệt không chỉ để có được người dùng, mà bạn còn cần phải làm cho họ thật hạnh phúc. Trong một khoảng thời gian (hóa ra lại khá dài) Wufoo gửi mỗi người dùng mới của họ một tấm thiệp cảm ơn viết tay. Người dùng đầu tiên của bạn nên cảm thấy đăng ký sử dụng sản phẩm của bạn là lựa chọn tốt nhất họ từng có. Và bạn nên suy nghĩ làm sao để sáng tạo ra những cách mới để làm cho họ vui thích nhất.
Vậy tại sao chúng ta hướng dẫn cho Startup điều này? Và tại sao điều này lại có tác động hai mặt tới các nhà sáng lập? Tôi nghĩ có 3 lý do như sau:
Một là rất nhiều nhà sáng lập của startup được đào tạo để làm kỹ sư, và chăm sóc khách hàng không phải là một môn học cho kỹ sư. Bạn đang dự định xây dựng những điều đẹp đẽ và thanh lịch, chứ không phải mù quáng chú ý tới người dùng cá nhân như một số người bán hàng hay làm. Nhưng trớ trêu thay, một phần lý do là kỹ thuật không thích kiểu họ chỉ phụ trách một tên miền hẹp chứ không phải vận hành toàn bộ chương trình.
Một lý do khác các nhà sáng lập không tập trung vào từng khách hàng đơn lẻ là vì họ lo rằng cách làm này sẽ không nhân rộng. Nhưng khi nhà sáng lập lo lắng về điều này, tôi chỉ ra rằng ở vị trí của họ, họ chả có gì để mất cả. Nếu họ thay đổi để làm hài lòng những khách hàng hiện tại, họ sẽ thấy một lúc nào đó họ có rất nhiều việc phải làm. Họ sẽ có một vấn đề tuyệt vời để giải quyết. Khi nhận ra bạn làm được điều này, đột nhiên, bạn nhận ra việc làm hài lòng khách hàng giúp cho việc phát triển hơn bạn mong đợi nhiều. Một phần bởi vì bạn tìm ra cách làm cho mọi thứ mở rộng quy mô tốt hơn tất cả những gì bạn từng dự đoán, phần vì việc làm khách hàng hài lòng, sau đó, sẽ thấm nhuần và trở thành văn hoá công ty bạn. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một startup nào bị thất bại bởi vì họ đã cố gắng làm hài lòng những khách hàng đầu tiên.
Nhưng có lẽ điều lớn nhất ngăn cản các nhà sáng lập nhận ra rằng họ nên quan tâm chu đáo với khách hàng của họ là vì họ chưa bao giờ được quan tâm như vậy. Tiêu chuẩn của họ về dịch vụ khách hàng được thiết lập bởi những công ty mà họ đã từng là khách hàng, và thường là những công ty lớn. Tim Cook, CEO của Apple Inc, không gửi bạn một tấm thiệp cảm ơn viết tay khi bạn mua một cái máy Mac. Đương nhiên là ông ta không thể. Và đó là lợi thế của startup nhỏ: Bạn có thể cung cấp một dịch vụ khách hàng tuyệt vời đến mức mà không công ty lớn nào trên thế giới có thể cung cấp được.
Một khi bạn nhận ra rằng những việc làm của bạn vượt qua giới hạn trải nghiệm của người dùng (bạn làm cho họ hạnh phúc hơn mong đợi), sẽ rất thú vị khi có thể thấy bạn sẽ đi xa đến đâu khi làm cho khách hàng của bạn hài lòng.
Nhân dịp năm mới Bính Thân 2016, WorkTime xin gửi tới toàn thể các bạn lời chúc mừng năm mới tràn đầy “Sức Khỏe – Hạnh Phúc – An Khang – Thịnh Vượng – Thành Công”
Chúng tôi rất vững tin vào sự phát triển của WorkTime trong năm mới và chắc chắn sản phẩm sẽ tiếp tục mang lại nhiều giá trị cho công việc của các doanh nghiệp Việt Nam .
Chúc các bạn một năm mới phát triển vững mạnh và thành công.
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
Ứng dụng Request ra mắt phiên bản hoàn chỉnh với các tính năng như: Tạo & định nghĩa loại Request; Gửi request đến WorkFlow; Chuyển tiếp Request; Trích xuất Dữ liệu ra file Excel
Trong một doanh nghiệp, việc phải xử lý liên tục các yêu cầu, đề xuất là một công việc hàng ngày mất rất nhiều thời gian. Ngoài ra, một điều khó khăn khác chính là việc quản lý và xác định trạng thái của từng yêu cầu trong mỗi thời điểm cụ thể: Khi nào yêu cầu đang được xử lý; khi nào yêu cầu đã được chấp nhận; và khi nào yêu cầu đã bị từ chối.
Hiểu được vấn đề này, WorkTime đã ra mắt ứng dụng Request giúp toàn bộ quy trình trong doanh nghiệp được xử lý một cách đơn giản, nhẹ nhàng, và tự động. Trong ứng dụng Request, bạn có thể:
Gửi Request (yêu cầu, đề xuất) trực tiếp đến một người hoặc một nhóm người
Định nghĩa các loại Request (ví dụ: Xin nghỉ phép, xin tạm ứng) và yêu cầu người tạo Request điền thêm các thông tin tùy biến (ví dụ: Ngày nghỉ phép, Ngày quay lại làm việc) để giúp việc quản lý trở nên vô cùng dễ dàng.
Xử lý từng loại Request tương ứng - bạn có thể chấp nhận, từ chối, hoặc chuyển tiếp Request đến những người khác.
Điều tuyệt vời nhất là ứng dụng Request được liên kết tự nhiên với hệ thống thông báo (Notification) và Công việc (Tasks + Reminders); để bạn dễ dàng được thông báo, quản lý và xử lý các Yêu cầu liên quan (mỗi khi có bất kỳ cập nhật nào mới). Hệ thống nhắc việc cũng sẽ tự động nhắc bạn khi nào một yêu cầu cần xử lý ngay và tổng hợp các công việc vào cuối ngày.
WorkTime hi vọng rằng ứng dụng này sẽ giúp công việc hàng ngày của bạn trở nên dễ dàng và đơn giản hơn.
Ứng dụng Knowledge-Base: Quản trị và chia sẻ tri thức Doanh nghiệp
Ứng dụng Knowledge-base với đầy đủ các tính năng: Tạo và quản lý các thư mục; lựa chọn nhóm (team) quản trị tri thức; Chia sẻ tri thức từ Files, topics hoặc bất kỳ trao đổi nào khác.
Tri thức là tài nguyên quan trọng bậc nhất của doanh nghiệp, được xây dựng và kế thừa xuyên suốt thời gian phát triển của doanh nghiệp. Tri thức giúp doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ. Tri thức giúp doanh nghiệp phát triển bền vững theo thời gian. Và tri thức giúp tăng hiệu suất làm việc của tất cả mọi người, giúp mỗi cá nhân dễ dàng làm quen và bắt đầu với các công việc mới.
Tri thức cũng là một sự chia sẻ hai chiều và phần lớn tri thức được đúc kết từ chính các cá nhân trong doanh nghiệp trong quá trình làm việc hàng ngày. Làm thế nào để xây dựng và quản trị kho tri thức quý giá của Doanh nghiệp từ chính những cá nhân đã và đang làm việc trong doanh nghiệp?
Ứng dụng Knowledge-base (quản trị tri thức) của WorkTime giúp bạn thực hiện việc này một cách dễ dàng.
Knowledge-base sẽ giúp bạn:
Trực tiếp đưa vào các tài liệu quan trọng được coi là tri thức Doanh nghiệp
Chia sẻ từ các nguồn thứ ba như Google Docs, Dropbox, OneDrive ...
Lựa chọn nhóm quản trị để xem xét & đánh giá các tài liệu mới được cập nhật
Chia sẻ tri thức từ tất cả các nguồn thảo luận (Thông báo, Topic, File, ...); để mọi người dễ dàng đóng góp tri thức từ chính công việc đang được thực hiện hàng ngày.
... và còn rất nhiều tính năng thú vị khác nữa để bạn khám phá
WorkTime hi vọng rằng ứng dụng Knowledge-base sẽ trở thành yếu tố then chốt giúp bạn xây dựng kho Tri thức doanh nghiệp nhanh hơn, đơn giản hơn và ngày càng hoàn thiện hơn.
Cập nhật WorkTime: Liên kết nhiều tài khoản trong nhiều công ty hoặc các công ty con
Ứng dụng WorkTime giúp bạn sử dụng một tài khoản chung duy nhất cho nhiều công ty ở bất kỳ quy mô nào.
WorkTime được xây dựng với sứ mệnh trở thành một nền tảng làm việc và tương tác hàng ngày cho toàn bộ mọi cá nhân trong doanh nghiệp. Hệ thống công nghệ của WorkTime được thiết kế để có thể đáp ứng được nhu cầu kết nối đồng thời & liên tục của hàng trăm hoặc vài trăm thành viên trong doanh nghiệp, giúp tất cả các tác vụ và thông báo được cập nhật theo thời gian thực (ví dụ: khi bạn giao việc cho bất kỳ ai, người đó sẽ được thông báo ngay lập tức).
Tuy vậy, phiên bản hiện tại của WorkTime có một giới hạn: mỗi doanh nghiệp sẽ chỉ có thể có tối đa 500 thành viên. Trong bản cập nhật mới, WorkTime đã mở rộng thành công một tính năng quan trọng dành cho các doanh nghiệp ở quy mô lớn (vài nghìn đến vài chục nghìn người): Các doanh nghiệp đã có thể tạo mạng lưới các công ty con (sub-systems) để cùng sử dụng WorkTime. Các công ty con này sẽ tự động liên kết với nhau và điều thú vị là một nhân viên có thể dùng chung một tài khoản để vào tất cả các công ty họ đang tham gia mà không cần phải đăng nhập lại.
Với bản cập nhật này, bạn đã có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng WorkTime mà không gặp bất kỳ giới hạn nào về quy mô doanh nghiệp - cho dù doanh nghiệp của bạn đang có vài trăm đến vài chục nghìn nhân viên.
Hiện tại tính năng này mới đang được thử nghiệm trên một số doanh nghiệp ở Quy mô vừa & lớn (trên 200 người). Nếu doanh nghiệp của bạn cần sử dụng tính năng này, vui lòng liên hệ với WorkTime trong thời gian sớm nhất.
Phiên bản WorkTime tiếng Việt ra mắt hôm nay, 01/02/2016. Bạn có thể đăng ký sử dụng ngay phiên bản này từ hôm nay.
Sau một thời gian phát triển WorkTime bản Tiếng Anh và lắng nghe các phản hồi của đối tác, WorkTime rất vui mừng để thông báo với bạn rằng phiên bản Tiếng Việt sẽ ra mắt chính thức từ ngày 01/02/2016.
Hiện tại mỗi doanh nghiệp chỉ có thể lựa chọn sử dụng một trong hai loại ngôn ngữ Tiếng Anh hoặc Tiếng Việt (sẽ không có tùy chọn ngôn ngữ theo từng cá nhân). Nếu bạn muốn sử dụng phiên bản Tiếng Việt, vui lòng liên hệ trực tiếp với WorkTime để được hỗ trợ sớm nhất.
Chúc bạn ngày làm việc thành công,
WorkTime
Quản trị chiến lược với WorkTime theo KPIs và OKRs
WorkTime ra mắt thử nghiệm ứng dụng Quản trị Chiến lược (KPI + OKR) giúp doanh nghiệp xây dựng các mục tiêu cho từng cá nhân và phòng ban.
Theo một nghiên cứu gần đây, có đến 90% nhân viên đến công ty mà không hề được biết mục tiêu, sứ mệnh và các kỳ vọng mà công ty đặt ra cho mình là gì. Sự thiếu định hướng này ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến khả năng đóng góp của mỗi cá nhân, và giảm sự gắn kết đối với công việc & đối với doanh nghiệp.
Mặc dù trên thực tế các doanh nghiệp thường xuyên đưa ra các kế hoạch theo từng quý (hoặc từng tháng), nhưng điều khó khăn nhất chính là việc truyền tải các kế hoạch này đến từng nhân viên, vạch rõ cho họ những việc quan trọng nhất cần tập trung, để mọi người luôn biết được mình sẽ đóng góp ra sao trong sự phát triển chung của doanh nghiệp.
Để giải quyết vấn đề trên, WorkTime ra mắt thử nghiệm ứng dụng Strategy (quản trị mục tiêu chiến lược) giúp các doanh nghiệp xây dựng các mục tiêu (KPIs hoặc OKRs) một cách rõ ràng, trực quan và gắn từng mục tiêu đến từng nhân viên cụ thể.
Ứng dụng Strategy giúp bạn xây dựng một trong hai loại chiến lược sau:
1. KPI: Các mục tiêu được đo đạc cụ thể theo các con số (ví dụ: Doanh thu)
2. OKR: Phương pháp quản trị mục tiêu hiện đại theo cách mà các công ty lớn nhất hiện nay đang sử dụng (Google, Facebook, Intel, v.v.)
Có thể bạn đã quen, hoặc nghe nói nhiều về KPI, nhưng OKR cũng sẽ là một phương thức quản trị rất thú vị để bạn thử nghiệm.
Bạn có thể đọc thêm về OKR ở:
Bài báo về phương pháp OKRs áp dụng ở Google ( với trích đoạn thuyết trình từ John Doerr)
Slide giới thiệu cơ bản về OKRs do WorkTime thực hiện
Ứng dụng Quản trị mục tiêu chiến lược sẽ được cập nhật liên tục trong thời gian tới. WorkTime luôn sẵn sàng đồng hành cùng bạn trong việc hỗ trợ xây dựng các chiến lược này, giúp doanh nghiệp của bạn phát triển thực sự vững mạnh.
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
Cập nhật ứng dụng WorkFlows: Quy trình nội bộ trong một phòng ban & Quy trình giữa nhiều phòng ban
Cập nhật ứng dụng WorkFlow để bạn có thể thiết kế linh hoạt hai loại quy trình: Trong nội bộ một phòng ban & Giữa nhiều phòng ban khác nhau
Ứng dụng WorkFlows đã được cập nhật để bạn dễ dàng thiết kế hai loại quy trình làm việc khác nhau như sau:
1. Quy trình nội bộ trong một phòng ban (internal workflow)
Mỗi cá nhân khi được giao việc sẽ tự mình thực hiện công việc qua toàn bộ các giai đoạn (stage). Loại quy trình này sẽ rất phù hợp với một số tác vụ như Sales, Marketing.
2. Quy trình giữa nhiều phòng ban (cross-department workflow)
Ở trong từng Giai đoạn ứng với một phòng ban cụ thể, người quản lý (Stage owner) sẽ giao lại việc cho một trong số nhân viên của mình. Loại quy trình này phù hợp với những tác vụ cần sự phối hợp của nhiều nhóm, phòng ban khác nhau.
Cả hai loại quy trình đều có chung các tính năng quan trọng khác như: Chuyển tiếp giữa các quy trình, chọn khoảng thời gian tối đa để thực hiện mỗi Giai đoạn; và trao đổi, bình luận, giao Task trong mỗi đầu việc.
Workflow là ứng dụng tạo và quản lý các quy trình tiêu chuẩn để xử lý công việc trong doanh nghiệp như quy trình tạm ứng, quy trình xử lý khiếu nại của khách hàng, và các quy trình nghiệp vụ khác.
Ứng dụng Workflows giúp việc phối hợp cộng tác giữa các phòng ban nhịp nhàng hơn, người quản lý luôn nắm bắt được tiến độ và hiệu suất xử lý công việc của nhân viên. WorkFlows giúp bạn xây dựng các Quy trình làm việc một cách nhanh chóng và đơn giản với các tính năng chính sau đây:
Tạo và chỉnh sửa các quy trình làm việc
Định nghĩa từng Giai đoạn (stage) cụ thể trong mỗi quy trình làm việc
Lựa chọn những cá nhân cụ thể để thực hiện công việc trong từng giai đoạn
Định nghĩa các Checklists cần thiết để hoàn thành công việc trong mỗi giai đoạn.
Chuyển tiếp công việc từ một quy trình này sang một quy trình khác.
Làm việc theo Quy trình là một cách thức làm việc khoa học giúp tăng hiệu suất công việc, và WorkFlows được xây dựng với sứ mệnh đó. Tuy vậy, đây là ứng dụng cần thời gian nhất định để làm quen và sử dụng thuần thục, vì vậy WorkTime sẵn sàng lắng nghe các ý kiến của bạn và giải đáp các thắc mắc về ứng dụng này trong bất kỳ thời gian nào.
Định nghĩa các thuật ngữ
WorkFlow (Quy trình): Là công cụ giúp công ty xây dựng quy trình làm việc và giúp các nhân viên trong công ty cộng tác, phối hợp làm việc theo quy trình tiêu chuẩn hay thứ tự làm việc mà công ty đã quy định. Một workflow trong công cụ tương ứng với một quy trình làm việc hoàn thiện của công ty.
Có hai loại workflow:
a. Quy trình nội bộ trong một phòng ban (internal workflow)
Mỗi cá nhân khi được giao việc sẽ tự mình thực hiện công việc qua toàn bộ các giai đoạn (stage). Loại quy trình này sẽ rất phù hợp với một số tác vụ như Sales, Marketing.
b. Quy trình giữa nhiều phòng ban (cross-department workflow)
Ở trong từng Giai đoạn ứng với một phòng ban cụ thể, người quản lý (Stage owner) sẽ giao lại việc cho một trong số nhân viên của mình. Loại quy trình này phù hợp với những tác vụ cần sự phối hợp của nhiều nhóm, phòng ban khác nhau.
Stage (Giai đoạn): Là một giai đoạn, một bước hoàn chỉnh, độc lập trong quy trình, được hoàn thành bởi một cá nhân hoặc một bộ phận chuyên môn.
Owner: Là người có toàn quyền quyết định với quy mô được đặt ra. Có 2 quy mô owner:
- WorkFlow Owner: là người sở hữu, có toàn quyền cài đặt với cả Quy trình (WorkFlow). WorkFlow Owner có thể cài đặt được các giai đoạn (stages) và thứ tự của các giai đoạn trong quy trình làm việc, người phụ trách chính của từng bước, hay các thành viên liên quan đến việc xử lý từng bước. WorkFlow Owner cũng có thể đặt ra thêm các chi tiết/đặc tính khác của cả Quy trình (WorkFlow) hay của từng giai đoạn (stage) trong Quy trình. Quyền và vai trò WorkFlow Owner được đặt mặc định cho người tạo ra workflow, tuy nhiên, khi cài đặt, họ có thể đặt được người dùng khác trong hệ thống cùng giữ vai trò WorkFlow Owner.
Ví dụ như khi Trưởng phòng Hành chính cài đặt một Quy trình xử lý giấy tờ, người đó có thể cài đặt quyền WorkFlow owner cho Giám đốc để cả hai có thể cùng giám sát.
- Stage Owner: là người quản lý, có quyền cài đặt với một giai đoạn (stage) được gán quyền. Stage Owner có quyền: chỉnh sửa, cài đặt các thông tin riêng của bước mà họ chịu trách nhiệm, thêm các thành viên liên quan có chuyên môn xử lý bước đó, hay thêm các công việc (checklist) cần đạt được để hoàn thành bước cụ thể của họ. Stage Owner là người giao việc (assign job) cho các thành viên (stage members) hoặc cũng có thể tự mình hoàn thành các công việc trong bước đó khi cần thiết.
Ví dụ như khi Trưởng phòng Nhân sự cài đặt một Quy trình tuyển nhân viên, có chính sách đặc thù thưởng 1 tháng lương đầu cho người giới thiệu thành công, khi đó có thể cài đặt quyền stage owner cho trưởng phòng kế toán cho bước tặng thưởng người giới thiệu để trưởng phòng kế toán biết để phối hợp cộng thưởng cho nhân viên.
Team trong WorkFlow có vai trò như thế nào? Khi cài đặt cho workflow, người WorkFlow Owner có thể cài đặt cho một team cụ thể sẵn có trong công ty mà có quyền tạo thêm công việc (job) mới vào quy trình. Ví dụ như: Quy trình xin nghỉ phép có thể cài đặt cho toàn công ty, còn Quy trình nhập liệu sổ kế toán có thể cài đặt riêng cho team của các thành viên Phòng kế toán.
Cách tạo, quản trị, và phối hợp làm việc trên WorkFlows
Dưới đây là giao diện của ứng dụng khi chủ hệ thống (owner) bấm vào Workflows ở thanh menu chính:
1. Tạo quy trình (owner/admin hệ thống có quyền này)
Để tạo một quy trình mới, ví dụ quy trình xử lý & thanh toán tạm ứng, bạn bấm vào nút create workflow, cửa sổ sau sẽ mở ra để điền thông tin:
- Phần 1: Thông tin về quy trình:
- Phần 2: Tùy chỉnh nâng cao
Bạn bấm vào Show advanced options để mở ra lựa chọn tùy chỉnh nâng cao như hình dưới.
- Phần 3: Định nghĩa các bước của quy trình
Bạn có thể nhập tối đa 10 bước cho một quy trình, không bao gồm bước Hoàn thành và bước Thất bại. Vì vậy bạn lưu ý khi tạo quy trình không thêm bước này.
Trong ví dụ này, quy trình bao gồm 3 bước cơ bản là Lập phiếu chi, Chi tiền và Hoàn ứng.
Trong các bước, người quản lý từng bước là là @thao (Trưởng phòng kế toán) và @giang (thủ quỹ) là người nhận được thông báo khi có công việc tới bước mình phụ trách, và có quyền chỉ định thành viên xử lý công việc này.
- Phần 4: Các nguyên nhân thất bại
Bạn có thể thêm mục này để tiện cho việc theo dõi thống kê nguyên nhân thất bại của các công việc được tạo và xử lý. Từ đó có những điều chỉnh cho quy trình làm việc để tỷ lệ công việc được xử lý thành công cao hơn.
Cuối cùng sau khi bạn hoàn tất việc thêm thông tin chi tiết cho quy trình trên, bấm vào nút create a new workflow để hoàn thành việc tạo quy trình.
Dưới đây là giao diện của Workflows sau khi tạo xong quy trình xử lý và thanh toán tạm ứng của công ty Blue Ocean.
2. Chỉnh sửa quy trình (chủ quy trình – workflow owner có quyền này)
Bấm vào icon Bút chì để chỉnh sửa thông tin cơ bản của quy trình bao gồm tên, chủ quy trình, mô tả quy trình. Bấm vào icon Bánh răng để chỉnh sửa các thông tin chi tiết của quy trình như hình dưới:
3. Tạo Job công việc – (thành viên của team được tag, team members có quyền này)
Ví dụ: @thu là nhân viên kinh doanh, sau khi được chấp nhận đề xuất tạm ứng cho chuyến đi công tác của Team Biz ở Hải Phòng, @thu tạo một công việc bằng cách bấm vào create a new job để được xử lý. Cửa sổ sau sẽ mở ra để điền chi tiết công việc:
Sau đó bấm vào Create a new job để hoàn tất.
Dưới đây là màn hình hiển thị của người tạo Job @thu
4. Thêm các hoạt động chi tiết cho Job
@thu có thể chia sẻ các ghi chú, thêm các nhiệm vụ (tasks) hoặc đính kèm các tệp tài liệu (files) để bổ sung chi tiết cho nội dung công việc như hình dưới.
5. Chỉ định người phụ trách Job (Quản lý của stage - stage owner có quyền này)
Job trên vừa được tạo và đang ở stage 1 là Lập phiếu chi. @thao trưởng phòng kế toán là người quản lý của stage này sẽ nhận được thông báo (notification) phải chỉ định người xử lý Job và nhìn thấy trạng thái Job như sau:
Ví dụ @thao chỉ định @duong xử lý job này, @thao bấm vào Assign và chọn như hình:
6. Xử lý Job (stage member được chỉ định có quyền này)
@duong phụ trách stage này, sau khi nhận được thông báo có Job chỉ định cho mình @duong có thể kéo thả Job để xử lý sang bước tiếp theo.
Hệ thống sẽ cần @duong cập nhận các đầu mục công việc nhỏ để hoàn thiện stage này:
Khi cập nhật tất cả các đầu mục trên, bấm vào Move to the next stage để hoàn tất.
7. Job hoàn thành và Job thất bại
Một Job sau khi đi qua tất cả các bước sẽ đến bước hoàn thành (Done) hoặc có thể vì một nguyên nhân nào đó mà bị thất bại.
Ví dụ: Job trên khi đang ở bước Hoàn ứng, bị thất bại vì thất lạc toàn bộ chứng từ, kế toán @duong kéo Job này vào mục Failed như hình
Hệ thống sẽ hỏi lại để xác nhận lệnh:
Chọn OK để tiếp tục, cửa sổ sau sẽ mở ra để @duong chọn nguyên nhân thất bại và hoàn tất.
8. Chế độ xem các Job (với màn hình của stage owner và stage member)
Bạn có thể lựa chọn chế độ xem các Job theo trạng thái của Job đó khi bấm vào Jobs view như hình.
Ví dụ: Bạn muốn xem tất cả các Job đã tạo, bấm vào All jobs
Hệ thống sẽ hiển thị như dưới đây:
9. Tìm kiếm Job
Để tìm kiếm Job trong ứng dụng Workflows, bạn gõ thông tin cần tìm vào ô
Ví dụ: Bạn gõ chữ lịch vào ô Search sẽ hiện ra Job gợi ý
Ứng dụng Công Việc (Task) giúp bạn làm việc nhóm hiệu quả hơn. Lịch Biểu (Calendar) giúp bạn dễ dàng kiểm tra các công việc cần làm hàng tuần và nhắc bạn mỗi khi có công việc mới.
WorkTime đã cập nhật phiên bản chính thức của ứng dụng Công Việc (Task) và Lịch Biểu (Calendar). Đây là một trong số những ứng dụng quan trọng nhất của WorkTime - giúp tổng hợp tất cả mọi công việc bạn đang tham gia và nhắc nhở bạn mỗi khi có công việc sắp đến hạn. Ngay cả khi bạn cần xử lý một yêu cầu (Request) có deadline, thì công việc này cũng sẽ được lưu vào lịch biểu chung một cách tự động.
Một số cập nhật quan trọng bao gồm:
Tạo Công Việc (Task) cho cá nhân hoặc cho nhiều người khác nhau.
Tạo Công Việc lặp đi lặp lại (Repeated Task) hàng tuần. WorkTime sẽ tự động khởi tạo công việc mới theo lịch trình định sẵn.
Nhắc nhở mỗi khi có một công việc sắp phải hoàn thành (trước 60 phút, 30 phút, 10 phút)
Liên kết với tất cả các ứng dụng khác trong WorkTime (Request, WorkFlow) để đưa vào lịch biểu các công việc tương ứng.
Tổng hợp các công việc hàng ngày và gửi kết quả cho bạn vào lúc 08:00 tối
Gửi email vào mỗi buổi sáng (07:30) để nhắc bạn về những công việc bạn đã dự định làm trong ngày
Ứng dụng Task cũng có thêm bốn tính năng quan trọng:
1. Chuyển tiếp task (Task delegation)
Giúp bạn chuyển Task cho người khác và vẫn tiếp tục theo dõi Task này.
2. Từ chối Task (Task rejection)
Giúp bạn từ chối một Task được giao và giải thích nguyên nhân cho việc từ chối.
3. Nhân bản Task (Task duplication)
Giúp bạn nhanh chóng tạo một Task mới dựa trên một Task đang có sẵn.
4. Tạo Task con (sub-task)
Nếu bạn thấy một Task cần chia nhỏ hơn để hoàn thành, bạn có thể tạo ra các công việc nhỏ hơn (sub-task) và giao tiếp cho mình hoặc những người khác.
WorkTime hi vọng rằng ứng dụng Công Việc sẽ trở thành một công cụ thực sự hữu ích giúp bạn quản lý công việc đơn giản hơn và làm việc với nhiêu người khác hiệu quả hơn.
Cập nhật hoàn chỉnh ứng dụng Request (Yêu cầu, Đề xuất)
Ứng dụng Request ra mắt phiên bản hoàn chỉnh với các tính năng như: Tạo & định nghĩa loại Request; Gửi request đến WorkFlow; Chuyển tiếp Request; Trích xuất Dữ liệu ra file Excel
Trong một doanh nghiệp, việc phải xử lý liên tục các yêu cầu, đề xuất là một công việc hàng ngày mất rất nhiều thời gian. Ngoài ra, một điều khó khăn khác chính là việc quản lý và xác định trạng thái của từng yêu cầu trong mỗi thời điểm cụ thể: Khi nào yêu cầu đang được xử lý; khi nào yêu cầu đã được chấp nhận; và khi nào yêu cầu đã bị từ chối.
Hiểu được vấn đề này, WorkTime đã ra mắt ứng dụng Request giúp toàn bộ quy trình trong doanh nghiệp được xử lý một cách đơn giản, nhẹ nhàng, và tự động. Trong ứng dụng Request, bạn có thể:
Gửi Request (yêu cầu, đề xuất) trực tiếp đến một người hoặc một nhóm người
Định nghĩa các loại Request (ví dụ: Xin nghỉ phép, xin tạm ứng) và yêu cầu người tạo Request điền thêm các thông tin tùy biến (ví dụ: Ngày nghỉ phép, Ngày quay lại làm việc) để giúp việc quản lý trở nên vô cùng dễ dàng.
Xử lý từng loại Request tương ứng - bạn có thể chấp nhận, từ chối, hoặc chuyển tiếp Request đến những người khác.
Điều tuyệt vời nhất là ứng dụng Request được liên kết tự nhiên với hệ thống thông báo (Notification) và Công việc (Tasks + Reminders); để bạn dễ dàng được thông báo, quản lý và xử lý các Yêu cầu liên quan (mỗi khi có bất kỳ cập nhật nào mới). Hệ thống nhắc việc cũng sẽ tự động nhắc bạn khi nào một yêu cầu cần xử lý ngay và tổng hợp các công việc vào cuối ngày.
WorkTime hi vọng rằng ứng dụng này sẽ giúp công việc hàng ngày của bạn trở nên dễ dàng và đơn giản hơn.
Quản lý doanh nghiệp: không thể dùng cảm tính để biết hiệu quả
Hoàn cảnh: TPP và thách thức cho doanh nghiệp Việt
Hòa nhập với xu thế hội nhập của thế giới, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP vào tháng 10 năm 2015. TPP mở ra rất nhiều cơ hội cho nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng mang lại nhiều thách thức mới cho doanh nghiệp Việt Nam, bởi việc hạ hàng rào thuế quan chắc chắn sẽ tạo điều kiện cho các nước trong TPP gia nhập vào thị trường Việt Nam với giá cả cạnh tranh. TPP phá vỡ đi sự bao bọc của chính sách nhà nước dành cho các doanh nghiệp Việt, và từ đó tạo ra một sân chơi công bằng cho tất cả các bên. Trong sân chơi này, chìa khóa để cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt là cuộc cạnh tranh về năng lực nội tại.
Bài toán cho các doanh nghiệp Việt Nam: năng lực cạnh tranh
Bài toán cấp bách cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời điểm hiện tại là phải tăng sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Ở cấp doanh nghiệp, bài toán này phải có được lời giải từ cấp quản lý chiến lược cao nhất chứ không thể còn trông chờ được vào một cá nhân “siêu nhân” có thể nâng đỡ được cả hệ thống đồ sộ của công ty. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải được củng cố từ tất cả các cá nhân, cũng như sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp giữa các thành phần. Điều tất yếu để có được sự phối hợp tốt làm tăng hiệu quả hoạt động của cả doanh nghiệp chính là những quy trình làm việc chuyên nghiệp và việc quản lý các quy trình đó.
Thực trạng của các doanh nghiệp Việt
Thế nhưng, một thực tế không thể phủ nhận là doanh nghiệp Việt vẫn còn đuối sức so với các đối thủ trong các nước TPP, chủ yếu là do năng lực quản lý chưa được phát triển. Ở Việt Nam, người quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn chưa nhận thức được vai trò của việc làm việc chuyên nghiệp theo quy trình và thường bỏ qua các bước cần thiết để chạy theo lợi nhuận ngắn hạn. Điều này được phản ánh rõ khi khách hàng Việt ưa chuộng dịch vụ ngoại mà không để ý tới hàng Việt Nam.
Một vấn đề quan trọng nữa là khi doanh nghiệp Việt có được một quy trình đơn giản, có thể chấp nhận được, thì doanh nghiệp vẫn chưa tự động hóa và quản lý được thực trạng thực hiện quy trình. Người quản lý không biết được có bao nhiêu công việc đang ở trạng thái cụ thể nào, bao nhiêu công việc đã xong và chưa xong. Ngoài ra, doanh nghiệp vẫn chưa có được giải pháp để đánh giá hiệu quả công việc mang tính định lượng và theo dõi tiến độ của các công việc xuyên suốt các quy trình. Kết quả của một nghiên cứu về thực trạng quản lý hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam do CEL Consulting thực hiện cho thấy rằng có đến 43% doanh nghiệp không tin vào các dữ liệu về quản trị hiệu suất mà họ có được họ có được và vẫn chủ yếu dùng Microsoft Excel để quản lý hiệu suất làm việc. Một số lãnh đạo doanh nghiệp thậm chí đã từ bỏ số liệu và giữ thói quen quyết định dựa trên cảm tính. Mấu chốt của bài toán đặt ra là cần phải quản lý được quy trình làm việc trong doanh nghiệp theo tiêu chuẩn định lượng cụ thể.
Một giải pháp cho doanh nghiệp Việt
Nhận thấy được giá trị mà những quy trình tiêu chuẩn mang lại cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, TechElite đã phát triển tính năng mới WorkFlow - ứng dụng hệ thống hóa quy trình làm việc của doanh nghiệp cho sản phẩm WorkTime - nền tảng giao tiếp và làm việc trực tuyến cho các doanh nghiệp.
Với WorkFlow, các doanh nghiệp có thể áp dụng để hệ thống hóa quy trình làm việc của doanh nghiệp, và báo cáo trạng thái để quản lý cũng như các nhân viên biết được công việc đang được thực hiện đến đâu. Người quản lý sẽ luôn biết được chính xác có bao nhiêu công việc đang ở trạng thái cụ thể nào, bao nhiêu công việc đã xong và chưa xong.
Đặc biệt, khi doanh nghiệp mô phỏng lại và xây dựng quy trình làm việc của mình trên WorkFlow, họ sẽ hiểu được bản chất của quy trình và một lần nữa đánh giá lại hiệu quả hay thiếu sót của quy trình. Do sự linh hoạt và có thể tùy biến, doanh nghiệp có thể tạo được quy trình làm việc cho tất cả các đơn vị chuyên môn khác nhau hay có quy mô khác nhau, từ đó doanh nghiệp nhìn thấy được tổng thể hoạt động và nhân viên hiểu được vai trò của mình trong hệ thống.
Ngoài ra, mỗi công việc trong quy trình được yêu cầu mô tả một cách chi tiết, liệt kê những đầu việc cụ thể để giúp nhân viên hiểu rõ hơn các bước hay chi tiết yêu cầu của công việc. Điều này thật sự quan trọng đối với các doanh nghiệp khi đào tạo kĩ năng cho nhân viên mới hay tìm người thay thế khi nhân viên cũ nghỉ việc. Với quy trình được định nghĩa sẵn và có thể truy cập được trên hệ thống làm việc trực tuyến chuyên biệt, nhân viên có cơ hội học hỏi chủ động dễ dàng hơn. Từ đó, giá trị của toàn công ty được gia tăng qua sự phát triển của nhân viên và sự hiệu quả của hệ thống làm việc có quy trình khoa học. Nhân viên công ty không những sẽ nhận được nhiều hơn những lợi ích nhìn thấy được như lương bổng, hay khen thưởng mà còn là quá trình tăng khả năng chuyên môn của cá nhân.
Các doanh nghiệp có thể đăng ký dùng thử nền tảng giao tiếp và làm việc trực tuyến WorkTime để trải nghiệm công cụ quy trình làm việc WorkFlow tại địa chỉ: worktime.vn
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
Bạn đang tập trung vào công việc mình đang làm, và đột nhiên có một thứ gì đó xảy ra. Bạn không để ý đến việc chuyện đó cấp thiết đến mức nào, mà theo phản xạ, bạn chỉ để ý đến chuyện đó. Điều này bình thường và rất phổ biến. Bạn nghĩ bạn sẽ tìm hiểu xem đó là cái gì, rồi 5 phút sau quay lại công việc của mình. Không hiểu thời gian vận hành ra sao, nhưng khi bạn có thể hoàn toàn quay trở lại với công việc thì đã hơn 1 tiếng trôi qua.
Bạn không nhớ được mình vừa làm đến công đoạn nào, hay tại sao bạn không thể ngay lập tức tập trung lại vào công việc trước đó. Thế là thời gian và công sức phấn đấu của bạn tự nhiên giảm đi; tốc độ làm việc cao bạn đang tăng tốc để tối đa từ đầu ngày làm việc cũng từ đó mà biến mất.
Bạn không thể bắt tất cả mọi thứ, mọi người không được nói hay làm bất cứ thứ gì khi bạn bận rộn; nên vì thế, chuyện bạn có tập trung vào công việc hay không chỉ phụ thuộc vào bạn. Bí quyết để tập trung là gì? Thật ra nó chỉ là tìm ra kĩ năng đúng, hiểu rõ thứ tự ưu tiên bạn đặt ra, và cố gắng theo những điều đó tới cùng.
Nếu như bạn vẫn chưa nghĩ ra được ý tưởng gì để áp dụng cho bản thân mình thì dưới đây là 15 cách mà WorkTime xin gợi ý để giúp bạn tập trung khi làm việc:
1. Luôn nhớ điểm thú vị và gây cảm hứng trong công việc bạn làm
Những công việc có ý nghĩa luôn có khả năng khiến bạn hướng được phần lớn sự tập trung của mình vào nó. Trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì, hãy tự hỏi hay tự nhắc lại cho bản thân lý do bạn cần làm công việc đó. Khi bạn có câu hỏi cho chính mình, bạn hiểu được mình muốn gì, và trân trọng công việc đó hơn. Sau đó, hãy cố gắng tìm cách làm cho công việc vui vẻ hơn, như là cho phép trí tưởng tượng và sáng tạo của bạn được đồng hành trong quy trình làm việc. Đừng chỉ cố gắng bám lấy mục tiêu "đã được chấp thuận", hãy cho phép bạn có quyền chọn những ý tưởng mới và hay ho.
Khi bạn có thể làm ra những thứ của riêng mình, bạn sẽ có thể tập trung vào công việc hơn.
2. Chọn cặp bàn ghế thoải mái nhất cho bạn
Có nhiều người rất hào hứng với công việc của mình, cho dù họ có phải ngồi một chỗ trong hầu hết thời gian làm việc của họ.
Đừng lãng phí thời gian quý báu của bạn vì bị xao nhãng bởi những thứ gây cho bạn không thoải mái. Hãy tìm cho bạn một chiếc ghế tốt tạo cho bạn tư thế ngồi không gây hại cho sống lưng, và bàn làm việc được thiết kế kỹ càng. Khi đó, bạn có thể làm việc liên tục, tập trung mà không cảm thấy mỏi người hay mỏi mắt.
3. Sắp xếp ngăn nắp khu vực làm việc của bạn
Việc có quá nhiều đồ vật hay nhiều thứ trong tầm với tay trên mặt bàn làm việc đã được chứng minh là gây xao nhãng tới công việc của bạn. Để tập trung, hãy chỉ để những đồ vật thật sự cần thiết cho công việc, còn những thứ còn lại ở một ngăn kéo hay một giá để đồ khác. Bạn cũng nên có một khu vực dành riêng để đồ ăn, thức uống, túi xách và những vật dụng cá nhân khác; nhưng lưu ý cũng để chúng ở trong tầm với tay, để bạn có thể dễ dàng uống nước mà không bị mất tập trung vào công việc đang làm.
4. Loại bỏ hết những chương trình gây xao nhãng trên máy tính của bạn
Điều này rất quan trọng đối với những người phải làm việc trên máy tính. Hãy tạo đường dẫn nhanh tới các chương trình mà bạn thường xuyên sử dụng, gộp các tài liệu dành riêng cho từng đầu việc hay dự án vào một thư mục. Bạn cũng nên đảm bảo rằng máy tính của bạn không bị nhiễm virus, tránh mất thời gian vào việc kiểm tra và sửa máy tính. Mỗi lần phải dừng lại cho một thứ rắc rối như vậy, bạn sẽ rất dễ bị stressed và chỉ tập trung vào việc loại bỏ thứ đó mà không hoàn thành được nhiệm vụ.
5. Dự trữ đủ nước uống ở gần bạn
Uống nước thường xuyên không chỉ có lợi cho sức khỏe, mà còn giúp bạn cảm thấy tỉnh táo hơn. Ngay khi cảm thấy một chút mệt mỏi hay đói, một cốc nước lọc có thể giúp bạn loại bỏ những cảm giác mệt nhọc này. Sau đó, bạn làm nốt công việc và nghỉ ngơi vào thời gian thích hợp không ở giữa chừng. Bên cạnh đó, không phải lúc nào bụng bạn réo cũng là do đói, và uống một cốc nước là đủ để bạn đối phó với hiện tượng này.
Hãy đảm bảo rằng bạn có đủ nước uống dự trữ ở gần để không phải rời khỏi bàn làm việc để đi lấy nước uống, và gặp những cám dỗ sao nhãng khác trên đường đi.
6. Dự trữ đồ ăn vặt
Cũng giống như việc dự trữ nước uống, một gói đồ ăn nhẹ giúp bạn đuổi được cơn réo của dạ dày nên được để gần bạn. Ăn nhẹ ở khu vực làm việc riêng sẽ giúp bạn tránh được những hoạt động không liên quan, và tập trung vào công việc.
7. Đặt ra danh sách làm việc theo ngày và đặt ở bàn làm việc
Hãy đặt danh sách công việc phải làm trong ngày bên cạnh máy tính hoặc ở một nơi nào đó dễ nhìn trong khu vực làm việc của bạn. Khi liệt kê vào máy tính hay điện thoại, bạn sẽ rất dễ lại mở thêm một trang trình duyệt khác, hay trả lời những tin nhắn không quan trọng cho công việc.
Đặt danh sách này ở một nơi dễ nhìn, và gạch đi nữhng đầu việc đã hoàn thành. Như vậy bạn không cần phải lục tìm loạn xạ trong túi xách của mình, hay tìm xem danh sách đó đã ở trang nào trong máy tính.
8. Đặt thứ tự ưu tiên cho các đầu việc
Những giờ đầu tiên ở công sở là thời gian phần lớn mọi người có năng suất làm việc cao nhất, bởi năng lượng của họ vẫn còn ở mức đầy đủ nhất. Vì thế, hãy sắp xếp những công việc khó khăn và thách thức nhất để làm trong những giờ đầu tiên. Sau đó, bạn có thể giảm dần mức độ khó khăn của công việc và kết thúc này làm việc bằng những công việc đã đều đặn quen lệ mà bạn thấy kém hấp dẫn hơn.
Phương pháp này sẽ giúp bạn tập trung hơn vào công việc mà không lãng phí thời gian sung sức làm việc nhất vào những việc bạn không thích làm. Hãy áp dụng phương pháp này để tránh việc bị stress vào cuối ngày làm việc vì bạn không còn đủ sức lực để làm những công việc khó nhằn nữa.
9. Thông báo với mọi người về quy tắc và lịch làm việc của bạn
Nếu như bạn muốn tạo ra một hệ thống làm việc hiệu quả cho bản thân mình thì hãy nói điều đó với mọi người. Khi đó, ít ra thì mọi người cũng sẽ biết dành cho bạn thời gian làm việc không bị ngắt quãng để tập trung vào những công việc thực sự quan trọng. Khi đến giờ bạn rảnh rỗi hơn, mọi người sẽ giao tiếp và đặt câu hỏi để phối hợp làm việc với bạn trong thời gian bạn rảnh rỗi hơn. Trừ khi có một công việc gì đó rất cấp bách, mọi người sẽ để cho bạn làm việc của bạn. Mà thật ra thì họ cũng muốn điều tương tự từ bạn mà thôi.
10. Đeo tai nghe lúc làm việc
Có rất nhiều nguồn gây tiếng động trong văn phòng mà có thể làm bạn sao nhãng - như là tiếng lau nhà dọn vệ sinh, các đồng nghiệp khác trao đổi với nhau, tiếng chuông điện thoại, hay những thứ không may rơi xuống nền nhà. Việc đeo tai nghe kể cả khi không nghe nhạc sẽ giúp bạn giảm tiếng ồn từ môi trường xung quanh, nhất là những tiếng động bất thường, những thứ khiến bạn tò mò theo bản năng và mất tập trung.
11. Đặt thời gian bận, đi vắng, không tiếp khách, hoặc không online
Không phải cuộc gọi nào tới bạn cũng cực kỳ quan trọng hoặc cấp bách, vậy nên bạn có thể hoàn toàn đặt chế độ Im lặng/Không làm phiền cho điện thoại trong khoảng thời gian bạn cần tập trung tối đa vào công việc.
12. Tránh truy cập các trang mạng xã hội
Các trang mạng xã hội được tạo ra để giúp bạn kết nối dễ dàng với người thân quen và bạn bè dễ dàng hơn, nhưng không có nghĩa là lúc nào bạn cũng phải kiểm tra tin tức nhỏ nhặt xung quanh.
Bạn sẽ luôn thấy trên trang chủ của các trang mạng xã hội những thứ mới, thú vị hay dị thường, và thường thì tất cả mọi người đều mất nhiều thời gian cho chúng hơn họ dự kiến. Việc này không chỉ khiến cho mục tiêu tập trung vào công việc của bạn bị thất bại, mà còn khiến cho bạn băn khoăn trăn trở về những điều không liên quan đến công việc, như là bạn A vừa chia tay người yêu (thật tội nghiệp cho bạn ấy!), bạn B vừa được sếp nâng chức và tăng lương (tại sao sếp mình chưa tăng lương cho mình nhỉ?). Hãy nghiêm khắc với bản thân mình và chỉ cho phép bạn đăng nhập vào mạng xã hội khi bạn có thời gian rảnh sau khi làm xong việc.
13. Sắp xếp hòm thư điện tử của bạn gọn ghẽ
Một công việc gây xao nhãng và căng thẳng cho bạn khi làm việc chính là các email. Ai cũng nhận được rất nhiều email, cho công việc và cho cá nhân, các cập nhật và chương trình khuyến mãi từ các trang web yêu thích, và tất nhiên là rất nhiều thư rác nữa.
Một cách tốt để tránh được việc chồng chéo nhiều loại thư này là tách biệt riêng tài khoản email cho công việc với tài khoản cho công việc cá nhân. Đặt chế độ phân loại tự động email, và khi có thời gian rảnh thì bạn kiểm tra lại và xóa chế độ cập nhật từ các trang không thực sự cần thiết. Sau đó, sắp xếp các email quan trọng mà bạn cần trả lời, và xóa hết những thứ không quan trọng.
Cuối cùng là, chỉ kiểm tra email khi bạn đã làm xong những đầu việc quan trọng nhất trong ngày ,và giới hạn thời gian bạn dành cho email.
14. Thay đổi thói quen sử dụng điện thoại của bạn
Sự cấp thiết của các cuộc điện thoại là dành cho những vấn đề quan trọng, còn những cuộc nói chuyện phiếm thì nên để dành cho giờ giải lao buổi trưa.
15. Chọn loại nhạc phù hợp cho bạn
Mục đích của việc nghe nhạc làm môi trường nền khi làm việc là để khiến bạn thoải mái và có cảm hứng. Tuy nhiên, mỗi người thích một loại nhạc khác nhau, và loại nhạc cũng thay đổi theo tâm trạng của người nghe.
Luôn có rất nhiều sự kiện và nhiều người xung quanh bạn ở môi trường làm việc. Tuy nhiên, hãy áp dụng những phương pháp trên để tạo ra môi trường tập trung kích thích năng suất làm việc của bạn, và khéo léo phối hợp làm việc với mọi người trong những thời gian còn lại.
OKRs (hay OKR) - Những mục tiêu và kết quả then chốt là phương pháp quản trị tiên tiến đã được các công ty lớn như Microsoft, Intel, Oracle, Facebook, Twitter hay đại học Stanford áp dụng. Đặc biệt, Google đã áp dụng phương pháp OKRs từ năm 1999 khi còn là một công ty nhỏ cho đến khi trở thành tập đoàn Alphabet như hiện nay. OKRs đã đóng góp một phần không nhỏ để Google có thể hoạt động trơn tru và hiệu quả trong những năm vừa qua, và các nhân viên của Google khi tách ra thành lập những công ty khởi nghiệp startups của riêng mình cũng mang OKRs để áp dụng quản trị cho công ty mới. Slide này sẽ giúp bạn hiểu được OKRs / OKR là gì, Những lợi ích của nó và Phương pháp, kiến thức cần thiết để áp dụng OKRs cho quản trị doanh nghiệp của bạn và công cụ OKRs trong sản phẩm WorkTime.vn - nền tảng giao tiếp và làm việc trực tuyến cho doanh nghiệp. Một giải pháp doanh nghiệp vô cùng hữu ích, sản phẩm phần mềm quản lý doanh nghiệp.
Tài liệu thuộc sở hữu của công ty cổ phần TechElite Inc - The SAAS Technology Company. All Rights Reserved