"Anh ơi, anh có thể cho em đi nhờ một đoạn được không?"
Anh ngoái lại. Một gã thanh niên cao lêu nghêu, mái tóc màu nắng khét lưa thưa xõa vài lọn xuống gương mặt hằn rõ vẻ khắc khổ. Anh ngần ngừ, lòng gợn lên vài tia âu lo rồi cũng gật đầu.
Đoạn đường đèo Omega chạy sang Khánh Vĩnh từ Lạc Dương đang chuyển dần từ cao xuống thấp. Thông thưa thớt hẳn. Những mảng rừng cây lá kim nhường chỗ cho thảm thực vật bán sơn địa mà nổi bật nhất là những chò pơ mu cao ngất ngưởng, vươn sừng sững đâm lên nền trời xanh thẫm. Trưa đã nắng gắt hơn. Thi thoảng chỉ nghe vài tiếng khứu trống liếng thoắng đáp lại tiếng mái ro ro.
Câu chuyện rì rầm của gã thanh niên ngồi phía sau làm anh khó tập trung được để thâu nhận cảnh vật hai bên đường. Gom nhặt câu được câu mất, anh hình dung ra câu chuyện của một gã lực điền từ miền đồng bằng "quê hương 5 tấn" với hai bàn tay trơn, Nam tiến theo lời dẫn dụ của lũ bạn hòng kiếm cơ hội đổi đời. Rồi có vẻ đời không như là mơ nên gã quyết định bỏ phố ra nơi đầu sóng ngọn gió đi bạn. Xui rủi thay, gã bị đám xe ôm ở bến xe An Sương lừa bán cho chủ tàu cá, phải làm không công và chịu gông cùm ròng rã 9 tháng. Một đêm mưa bão tháng Mười, khi tàu phải tấp vào tránh bão ở một đảo hoang thuộc quần đảo Bà Lụa, Kiên Giang, gã đã trốn thoát. Những tình tiết lúc đậm, lúc nhạt với kiểu gã nhả hơi khi mờ khi tỏ vì hụt sức mà anh nghĩ có thể là do đói quá vì từ sáng sớm gã đã lếch thếch tìm đường về quê men theo ngã quốc lộ 27C. Vô thức, anh xâu chuỗi tất cả tình tiết lại với nhau, tìm kiếm những điểm vô lý, những điều phi logic có thể có trong một câu chuyện bịa đặt. Lờ mờ trong trí nhớ, đâu đó anh có nghe hay đọc được câu chuyện đại loại như vậy. Thế giới vốn đã hỗn độn và giờ lại hỗn độn hơn khi những nguồn tin không thể kiếm chứng cứ văng vạ vào bất cứ nơi đâu có dấu vết của con người, cái giống tò mò và thích thêu dệt đến tàn nhẫn. Người ta thích đón nhận thông tin nhưng lại vô thức xử lý nó theo cách mà họ cảm thấy hứng thú nhất.
Một vài chiếc xe khách lúc lỉu xượt qua mang theo hơi bụi đỏ nhờ nhờ bay tung lên trong cái nắng mỗi lúc mỗi đậm thêm. Rừng và núi cứ nghễu nghệnh choàng vai nhau, lúc chìa lưng, lúc đưa mặt ra đón lũ người và xe lấm tấm lướt trên vai mình. Anh chầm chậm trườn qua ở một đoạn khuỷu tay để nhìn rõ được "thác cầu vồng", dòng thác đổ trắng từ một mỏm núi nhô ra mà anh đã tự đặt tên ngay từ lần đầu trôi từ xứ sương mù xuống thành phố biển theo con đường mới này. Dưới cái nắng chói chang giữa đỉnh trời, anh thấy rõ đủ bảy sắc màu qua màn bụi nước từ thác giăng thành từng lớp, lớp ngoài vừa tan đi thì lớp trong lại hiện nhòa ra.
Anh xoay người lại nhìn gã ở phía sau. Trong cái bóng râm đang thu hẹp lại được hắt xéo bởi khúc khuỷu tay đang khép vòng, anh thấy rõ đôi môi nhợt nhạt của gã. Chỉ sau một vài lần môi gã mấp máy mà anh có thể đếm được từ cái nhìn ngoái lại, anh quyết định dừng xe. Gã cũng ngước lên nhìn đoạn suối đổ từ vòm cao mà khi anh nhìn sang thấy gã đang đưa tay sờ chóp mũi. Hành động đó y hệt lần đầu tiên anh vô thức làm khi ngước nhìn ngọn thác, nơi những chòm cây, nắng và mây luôn hòa lẫn, hoặc ngơ ngác nép vào nhau nhường chỗ cho những lớp ánh cầu vồng ẩn hiện liên tục theo từng đợt nắng, đợt mây tràn qua thung.
Ngồi xuống phần bệ ta luy, anh rút chai nước lọc đưa cho gã, mắt vẫn không rời vòm cao phía trên và chỉ quay xuống khi anh nghe thâý rõ tiếng thầm dù sát bên tiếng thác nước đang gầm gào:
"Anh có tin… có người xin đi nhờ, không phải để được chở về, mà để được chết mà không phải một mình?"
Như trút hết tâm sức sau câu nói, gã ngồi phịch xuống, lưng tựa vào ta luy, hai mắt nhắm nghiền, ngực phập phồng như hụt hơi. Anh im lặng, chừng có hơn 10 giây rồi cất giọng:
"Nói thật anh nghe, mày đang định đi đâu?"
"Trạm xá huyện… em định đi tới đó, mà không còn sức".
Anh nhíu mày, lục trong túi lấy mấy cái bánh ghé chợ mua lúc sáng sớm chìa ra cho gã. Khi chạm vào phần bánh, mấy ngón tay gã run bật bật và trắng bệt như không còn chút máu nào lưu chuyển trên đó. Anh nhớ rõ điều ấy.
Vài chục giây sau, anh thì thầm "Rồi, có sức nói rõ anh nghe coi".
Gã làm công nhân xây dựng sau khi thất chí bỏ ngang lớp 11 khi mẹ già lâm nợ khánh tận phải bán đất trả nợ. Một lần truyền máu tại trạm y tế công trình khi bị tai nạn, gã được phát hiện nhiễm viêm gan nặng, biến chứng thành xơ gan. Không tiền chữa trị. Mẹ mất. Nhà cửa chẳng còn, không đủ sức phu phen làm xây dựng, gã lang thang khắp nơi, sống nhờ các trạm phát cháo từ thiện, rồi trốn viện khi bác sĩ nói chẳng còn mấy thời gian.
Anh nhìn gã chìa ra cho mình một cái bọc màu vàng, mở ra là một cuốn sổ tay cũ kỹ, một tờ toa thuốc, một xấp giấy chuẩn đoán với những dòng chữ in bệt bạc, và mấy dòng nguệch ngoạc bằng bút mực xanh trên một trang viết học trò:
“Nếu được chọn nơi kết thúc đời này, tôi muốn đó là nơi có thác, có cầu vồng. Nơi không ai gọi tôi bằng cái tên giả. Nơi tôi được yên lặng, không nhất thiết phải cất lời. Nơi không để ai thấy xấu hổ vì đã sinh ra tôi.”
"Anh à, và em muốn được thiêu thành tro. Anh sẽ rải em xuống cái thác này, nơi anh đã dừng lại cho em nhìn. Có được không?"
Anh không trả lời, chỉ quay đi nhìn vào lưng thác và biết gã đang nhìn trối vào phần lưng của mình. Bất giác, một tiếng khứu cất lên vang động thung lũng, anh gật đầu thật nhanh.
Trạm xá của huyện nằm lọt bên một khoảnh rừng nhỏ. Gã được đỡ vào giường bệnh duy nhất còn trống. Cô y tá trực lắc đầu, mắt ráo như lòng suối mùa cạn, “Trễ rồi anh ơi, tụi em chỉ giữ để cầm chừng thôi.”
Anh bảo anh ở lại và mắc võng bên cái lán gỗ đối diện trông vào trạm xá. Anh lầm thầm nói chuyện với tiếng dế rả rích, tiếng sương giáng đập long tong vào mái lá. Chúng nhẹ khẽ nhưng gió vẫn đỡ lấy, thả chúng trượt qua má anh vài chặp. Anh vẫn ngóng vào bên trong không gian trạm xá mà thật sự không rõ mình đang trông đợi điều gì. Phần nửa đêm sau đó, anh nhớ rõ, hẳn chùng xuống như nếp gấp cuối cùng của một cuốn sách được đánh dấu bằng thật nhiều nếp gấp.
Gần sáng, y tá chạy ra lay anh dậy. Gã mất lúc ba giờ hơn. Gã để lại cho anh túi vải nhỏ màu vàng, trong đó là cuốn nhật ký, giấy căn cước, và mẩu giấy học trò ghi rõ nguyện vọng cuối cùng: được thiêu và rải tro ở "thác cầu vồng" đoạn đèo Omega.
Sáng hôm sau đó, trạm xá và công an cùng làm những thủ tục cần thiết. Giấy xác nhận tử vong được lập gấp. Nhóm thiện nguyện nhận mang gã đi hỏa táng.
Hai ngày sau, anh quay lại khúc cua khuỷu tay. Mỗi một mình. Hũ tro cốt nhỏ nhắn như thân phận mong manh của gã được anh dằn trong ba lô để phía trước xe. Để gió bạt lên nó, hẳn là gã sẽ nghe được tiếng khứu trống gọi mái, tiếng kèn kẹt của những thân pơ mu xô lệch chạm xát vào nhau, cùng tiếng quẫy càng của một con cua trong hốc đá nào đó – như tiếng vọng cuối của một kiếp trả vay.
Anh trèo xuống bãi đá gần dòng thác, ngước lên thấu rõ vẫn nguyên vẹn những vầng cầu vồng ẩn hiện luân phiên khi cái nắng lùa mây tràn qua thung. Anh mở nắp hũ, nghiêng tay thả từng nắm tro bụi theo mỗi đợt gió lên.
...
Vài tháng sau, anh quay lại đèo cùng đoàn y bác sĩ tình nguyện. Cô gái theo anh qua cung đường này bấy lâu bất chợt liếc mắt làm lạ: "Sao anh cứ dừng đúng cái chỗ khúc cua này vậy?"
Anh giữ một khoảng cách, chỉ nhìn dòng thác phía xa, đợi vệt cầu vồng trổ lên nền trời thẳm rồi thì thầm như nói với chính mình:
"Ở đây, có người từng đi nhờ anh một đoạn. Đoạn cuối, em ạ!"













