There are some things in life you can alter—your weight, your appearance, even your name—but there are others that wishing and trying and working hard can never make any difference to. Those things are the ones that shape us. Not the things we can change, but the ones we can’t.
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
Gói bưu kiện đến không một lời báo trước, không ruy băng cũng chẳng giấy gói quà. Ai đó nhét nó vào hòm thư, chen chúc giữa một lá thư kêu gọi ủng hộ cho Macmillan và tờ rơi của một cửa hàng pizza mang về mới mở.
Với cả, đứa dở hơi nào lại đi gửi thư trong thời đại này cơ chứ ? Ngay cả mẹ tôi, người đã bảy mươi tám tuổi, cũng dính chặt lấy email, Twitter và Facebook. Thực tế là mẹ còn am hiểu công nghệ nhiều hơn tôi. Tôi có phần hơi lạc hậu. Điều này luôn trở thành trò tiêu khiển cho lũ học sinh của tôi, cái bọn suốt ngày nói về Snapchat, lượt thích, gắn thẻ và Instagram cứ như thể một ngoại ngữ vậy. Tao cứ ngỡ mình là giáo viên tiếng Anh, tôi thường buồn bã nói với chúng thế, cho đến khi tao chẳng thể hiểu được lũ chúng mày đang nói cái khỉ gió gì.
Tôi không nhận ra nét chữ viết tay trên phong bì, nhưng thực ra tôi còn chẳng nhận ra nổi chữ mình. Giờ là thời đại của bàn phím và màn hình cảm ứng.
Tôi rạch chiếc phong bì ra và xem xét nội dung thư trong khi đứng cạnh bàn bếp, xì xụp cốc cà phê. Thực ra thì cũng không hẳn thế. Tôi ngồi ở bàn, nhìn chăm chú vào bức thư trong lúc cốc cà phê đặt bên cạnh dần trở nên nguội lạnh.
“Cái gì vậy?”
Tôi liếc nhìn. Chloe bước vào bếp, quần áo xộc xệch và đang ngáp. Mái tóc nhuộm đen của con bé buộc lỏng, phần mái chó gặm dựng lên để lộ mấy chỗ bò liếm. Con bé mang một cái áo nỉ cũ của Cure và vẫn chưa thèm tẩy hết lớp trang điểm tối qua.
“Cái này,” tôi nói, cẩn thận gập nó lại, “là thứ mà người ta gọi là một bức thư. Thời xưa con người dùng nó để liên lạc với nhau.”
Con bé nhìn tôi chán chường, giơ ngón giữa của nó lên. “Cháu biết chú đang nói, nhưng tất cả những gì cháu nghe thấy chỉ là bla, bla, bla.
“Đấy chính là vấn đề của giới trẻ ngày nay. Chúng không biết lắng nghe.”
“Ed, chú mới gần bằng tuổi bố cháu thôi, thế nên sao chú cứ phải lên giọng như ông nội cháu thế nhỉ?”
Con bé nói đúng. Tôi bốn mươi hai còn Chloe ở đâu đó khoảng cuối hai mươi. (Tôi đoán vậy. Con bé chẳng bao giờ nói còn tôi thì quá lịch sự để mà đi hỏi tuổi phụ nữ.) Chúng tôi không cách nhau quá nhiều tuổi, nhưng thường thì cảm giác như cả hàng chục năm.
Chloe trẻ trung, thú vị và cũng có thể coi là một thiếu niên. Tôi thì ngược lại, có thể được coi là một kẻ về hưu. Tử tế mà nói thì bạn có thể bảo tôi hơi mất phong độ. Dù vậy nhưng tôi đã phát hiện ra rằng không phải sự quan tâm làm bạn mất phong độ mà là sự lo lắng và hối tiếc. (*)
Mái tóc tôi vẫn dày và hầu như đen, nhưng khiếu hài hước của tôi đã nhạt dần theo năm tháng. Giống như hầu hết những người cao, lưng tôi còng đi, và phong cách mặc đồ yêu thích của tôi bị Chloe gọi là “đồ từ thiện.” Đồ âu, áo gi-lê và giày tây. Tôi có vài cái quần jeans nhưng không mặc chúng đi làm và - trừ những lúc cắm cổ nghiên cứu - tôi làm việc quanh năm, thường là dạy thêm vào các kì nghỉ.
Tôi kể chuyện này bởi vì tôi yêu việc dạy học, nhưng nói trắng ra chẳng ai có thể làm việc chỉ vì đam mê. Tôi làm việc bởi vì tôi cần tiền. Đó cũng là lí do Chloe sống ở đây. Con bé là khách thuê trọ ở nhà tôi và, tôi thích nghĩ rằng, một người bạn.
Thành thực mà nói, bọn tôi là một đôi kì lạ. Chloe không phải là loại khách thuê nhà mà tôi thường chấp nhận. Nhưng tôi vừa mới bị một khách thuê khác làm cho thất vọng và con gái của một người họ hàng thì biết “một con bé” đang cần chỗ ở rất gấp. Vậy cũng ổn, tiền thuê nhà cũng giúp được tôi chút ít. Việc có người ở cùng cũng thế.
Mọi người có thể thấy lạ vì thực ra tôi không cần cho thuê phòng. Tôi được trả lương khá hậu, căn nhà đang ở được mẹ tôi để lại, và tôi đoan chắc mọi người nghĩ đây là một chỗ ấm cúng, không phải nhà trả góp.
Sự thật đáng buồn là chúng tôi mua căn nhà khi lãi suất đang ở mức hai con số, gia hạn trả nợ lần đầu để dành tiền tu sửa, và lần thứ hai để lo cho bố tôi khi bệnh tình của ông trở nên quá trầm trọng và không thể chăm sóc ở nhà được nữa.
Mẹ và tôi cùng sống ở đây cho tới 5 năm trước, khi mẹ gặp Gerry, một ông chủ ngân hàng vui tính đã quyết định bỏ lại tất cả để về vùng nông thôn Wiltshire sống theo kiểu tự cung tự cấp trong một căn nhà tự xây.
Tôi không hề phản đối chuyện Gerry. Tôi cũng không hề ủng hộ chuyện ấy, nhưng ông có vẻ làm cho mẹ hạnh phúc, và điều đó, vì vốn chúng ta thích dối trá, mới là điều quan trọng.
Bên cạnh đó, ở tuổi bảy mươi tám, Mẹ, rõ ràng là, chẳng quan tâm quái gì. Đó thực ra không phải chính xác là những gì bà đã dùng khi bà nói với tôi rằng bà đã quyết định về sống chung với Gerry, tôi chỉ hiểu nó theo ý mình thôi.
“Mẹ cần phải thoát khỏi nơi này, Ed. Có quá nhiều kỉ niệm.”
“Con có muốn bán nhà không ?”
“Không. Mẹ muốn con giữ nó, Ed. Thêm một chút tình yêu, nó có thể là một tổ ấm tuyệt vời.”
“Mẹ, con còn chưa có bạn gái, nữa là nói chuyện gia đình.”
“Chẳng bao giờ muộn cả.”
Tôi không nhắn lại.
“Nếu con không muốn ngôi nhà, cứ bán nó đi.”
“Không. Con chỉ...Con chỉ muốn mẹ hạnh phúc.”
“Thế thư của ai vậy?” Chloe hỏi, bước đến cạnh máy pha cà phê và tự rót cho mình một cốc.
Tôi đút nó vào túi chiếc áo khoác dài. “Không có gì đâu.”
“Á àaa. Bí hiểm nhỉ.”
“Không hẳn. Chỉ là... một người bạn cũ.”
Con bé nhướng mày. “Một người nữa? Wow. Họ đều nhảy xổ ra từ đâu đó nhỉ. Không biết là chú lại nổi tiếng thế đấy.”
Tôi nhíu mày. Sau đó tôi nhớ ra là đã kể với con bé về việc đi ra ngoài ăn tối nay.
“Đừng làm như thể ngạc nhiên thế chứ.”
“Thật mà. Với một người không thích giao du như chú thì việc có bạn bè thật sự là đáng ngạc nhiên đấy.”
“Chú có bạn bè, ở Anderbury này. Chú biết rõ họ. Gav và Hoppo.”
“Hai người đó không tính.”
“Tại sao?”
“Bởi vì họ không thực sự là những người bạn. Họ chỉ là những người chú đã biết từ thuở bé.”
“Thế đấy không phải là định nghĩa của một người bạn à?”
“Không, đó là định nghĩa của ít giao du. Những người chú cảm thấy buộc phải chơi cùng chỉ vì chú đã quen thế thay vì mong muốn có họ làm bạn đồng hành.”
Con bé có lí. Một phần.
“Dù sao thì,” tôi chuyển chủ đề, “Chú phải đi thay đồ đây. Hôm nay chú phải lên trường.”
“Không phải đang trong kì nghỉ sao?”
“Ngược lại với niềm tin của mọi người, công việc của một giáo viên không kết thúc khi học sinh nghỉ hè.”
“Cháu không biết chú là fan của Alice Cooper đấy.”
“Chú yêu nhạc của cô ấy.” tôi đùa.(**)
Chloe cười nhếch mép, một nụ cười lạ lùng làm khuôn mặt có phần khó nhớ của con bé trở nên đặc biệt. Một số phụ nữ có kiểu như vậy. Ở cái nhìn đầu tiên, ta thấy họ lạ lùng, thậm chí bất thường, nhưng chỉ một nụ cười hay một cái nhướng mày thôi cũng đủ biến họ thành một con người khác.
Tôi đoán tôi cũng hơi phải lòng Chloe, nhưng không đến mức phải tỏ tình. Tôi biết con bé coi tôi giống như một ông chú hay che chở hơn là một người bạn trai tiềm năng. Tôi sẽ không bao giờ muốn con bé trở nên khó xử bằng việc cho nó biết rằng tôi yêu quý nó hơn là một người chú yêu quý cháu gái. Tôi cũng hiểu rõ rằng, ở địa vị của tôi, trong một thị trấn nhỏ, mối quan hệ với một người phụ nữ trẻ hơn nhiều có thể dễ dàng bị hiểu nhầm.
“Khi nào thì cái người “bạn cũ” kia của chú đến?” con bé hỏi trong lúc mang cốc cà phê ra bàn.
Tôi đẩy ghế lại chỗ cũ và đứng lên. “Khoảng 7 giờ.” Ngừng một chút. “Cháu có thể tham gia cùng bọn chú.”
“Cháu xin thôi. Cháu không muốn làm hỏng cuộc họp mặt.”
“Ừ được.”
“Có thể lần sau. Từ những gì chú kể, ông ta có vẻ là một người thú vị.”
“Ừ.” Tôi cười gượng. “Thú vị là một từ để miêu tả hắn.”
Đi nhanh thì từ nhà đến trường chỉ mười lăm phút. Vào một ngày như hôm nay - một ngày mùa hè ấm áp, một chút màu xanh của bầu trời lấp ló sau những lớp mây - thì đi dạo khá ổn. Một cách để sắp xếp lại những suy nghĩ trong đầu trước khi bắt tay vào làm việc.
Về mặt thời gian. việc này rất hữu ích. Nhiều đứa tôi dạy ở Học viện Anderbury thuộc dạng “khó bảo.” Vào thời của tôi, chúng tôi gọi bọn nó là “một lũ nhãi ranh chết tiệt.” Có những ngày, tôi cần phải chuẩn bị tâm lí trước khi chiến đấu với chúng nó. Những ngày còn lại, thứ duy nhất giúp tôi chuẩn bị tinh thần là một ly vodka pha vào cà phê sáng.
Giống như nhiều thị trấn buôn bán nhỏ khác, Anderbury, trong mắt người thường, là một nơi tuyệt vời để sống. Những con phố lát đá cổ kính, những tiệm trà và một thánh đường có tiếng. Ở đây có hai buổi họp chợ một tuần, kha khá những công viên xinh xắn và đường đi dọc bờ sông. Chỉ mất một chút để lái xe từ đây đến bãi biển đầy cát ở Bournesmouth và đồng cỏ ở phía New Forest.
Tuy nhiên, bên dưới lớp vỏ hào nhoáng của ngành du lịch, nơi đây không hề hào nhoáng. Hầu hết công việc ở đây đều theo mùa vụ, tỉ lệ thất nghiệp cao. Từng nhóm thanh niên chán đời lượn lờ khắp các cửa hàng và trong công viên. Những bà mẹ tuổi thiếu niên đẩy chiếc xe nôi dọc tuyến phố trung tâm. Điều này không mới, nhưng đang dần dần trở nên phổ biến. Hoặc cũng có chỉ mình tôi nghĩ vậy. Thường thì, đi cùng với tuổi tác không phải sự thông tuệ mà là tính bất khoan dung.
Tôi đi đến cổng công viên Old Meadows. Sân chơi tuổi thơ của tôi. Nó đã thay đổi nhiều so với thời trước đó. Cũng hợp lí thôi. Có một sân trượt mới, và khoảnh đất mà băng của tôi thường tụ tập giờ đã bị thay thế bởi một một khu “thư giãn” mới hơn, hiện đại hơn ở phía bên kia công viên. Ở đó có xích đu bện dây thừng và một ống trượt khổng lồ, dây trượt và đủ loại trò chơi hết xảy mà bọn tôi thời ấy chẳng bao giờ dám mơ tới.
Lạ lùng thay, khu vui chơi cũ vẫn được giữ lại, bị bỏ hoang và không ai quan tâm. Khung dùng leo trèo đã gỉ sét, xích đu bị cuộn buộc vào thanh xà và vòng xoay một thời phủ sơn rực rỡ nay đã xỉn màu và bong tróc, bị xịt những chữ graffiti bởi một người đã lãng quên từ lâu tại sao Helen là một con khốn hay làm thế quái nào mà mọi người lại yêu mến Andy W.(***)
Tôi đứng nhìn mất một lúc, hồi tưởng.
Tiếng kẽo kẹt nho nhỏ của chiếc xích đu cỡ nhỏ, cái lạnh thấu da của không khí buổi sớm, viên phấn trắng giòn gãy trên mặt đường nhựa đen. Một thông điệp nữa. Nhưng cái này khác. Không phải người đàn ông với những viên phấn... một thứ gì khác.
Tôi vội vàng quay người đi. Không phải bây giờ. Đừng lặp lại lần nữa. Tôi sẽ không bị cuốn vào lần nữa.
Công việc ở trường không tốn quá nhiều thời gian. Đến trưa là đã hoàn tất. Tôi quơ mấy cuốn sách, khóa cửa và đi ngược trở lại trung tâm thị trấn.
Quán The Bull nằm ở góc tuyến phố trung tâm, quán cuối cùng mang màu sắc “địa phương.” Anderbury từng có hai quán rượu khác, The Dragon và The Wheatshef, thế rồi các thương hiệu với chuỗi nhiều cửa hàng xuất hiện. Những cửa hàng địa phương dần đóng cửa và bố mẹ Gav bị buộc phải giảm giá, tổ chức các đêm cho quý bà, đưa ra chương trình giờ vàng và “chào đón các gia đình” để có thể duy trì quán.
Cuối cùng thì, họ bỏ cuộc. Họ chuyển tới Majorca, nơi họ mở một quán bar tên Britz. Gav, nhân viên bán thời gian của quán từ nằm mười sáu tuổi, nhận việc rót bia và làm việc ở đó tới giờ.
Tôi đẩy cánh cửa cũ nặng trịch và bước vào bên trong. Hoppo và Gav đang ngồi ở bàn quen, trong góc cạnh cửa sổ. Từ phần eo trở lên, Gav vẫn cục mịch, to lớn đủ để nhắc tôi rằng tại sao chúng tôi từng gọi nó là Gav Béo. Nhưng giờ vẻ cục mịch của nó là do cơ bắp chứ không còn toàn mỡ như xưa. Hai tay nó to như hai thân cây, nổi trên đó là những đường vân xanh. Mặt nó góc cạnh, tóc ngắn màu xám thưa thớt.
Hoppo gần như không thay đổi. Trong cái dáng vẻ thợ ống nước, nếu bạn nheo mắt một chút, nó vẫn có thể bị nhầm là thằng nhóc mười hai tuổi đang chơi trò giả trang.
Hai đứa chúng nó đang chìm đắm trong cuộc trò chuyện. Chúng gần như không cầm đến mấy chai bia trên mặt bàn. Một Guinness cho Hoppo và một Coca không đường cho Gav, người hiếm khi bia rượu.
Tôi gọi một chai Taylor’s Mild từ cô gái trông có vẻ cau có ở sau quầy bar. Cô nhíu mày nhìn tôi, rồi lại nhíu mày nhìn cái máy rót bia như thể cô bị nó xúc phạm nghiêm trọng vậy.
“Cần phải thay thùng bia đã,” cô ta càu nhàu.
“Okay.”
Tôi đợi. Cô ta đảo mắt.
“Tôi sẽ mang ra chỗ anh.”
“Cảm ơn.”
Tôi quay người và đi xuyên qua quán. Khi tôi liếc nhìn lại thì cô ta vẫn chưa hề động đậy.
Tôi ngồi xuống một cái ghế không lưng tựa xập xệ, cạnh Hoppo.
“Chào buổi chiều.”
Hai đứa nhìn lên, và ngay lập tức tôi có thể nhận ra rằng có gì đó không ổn. Có gì đó đã xảy ra. Gav xoay người ra từ phía sau cái bàn. Cơ bắp trên tay nó gồng lên trông rắn rỏi hơn nhiều lúc được đặt thả lỏng trên cái ghế xoay.
Tôi xoay cái ghế của mình. “Gav? Có chuyện--”
Nó tung nắm đấm vào mặt tôi, má trái tôi lãnh trọn sự đau đớn, và tôi ngã nhào xuống sàn.
Nó nhìn chằm chằm xuống tôi. “Mày biết chuyện được bao lâu rồi?”
(*) Từ gốc là “careworn” - tiều tụy. Chơi chữ khó dịch, “care” là sự quan tâm, “worn” là giảm đi, mất đi. Cả câu gốc: “You might kindly call my look “careworn.” Although I’ve found it’s not cares that wear you down but worries and regrets.” Đây là một câu đùa, vì thế nên mới có câu tiếp theo.
(**) Alice Cooper là một nam ca sĩ.
(***) Theo mình đoán những chữ in nghiêng là những chữ graffiti được viết lên cái vòng xoay.
Bố tôi rất thích việc dự báo thời tiết bằng một giọng trầm và vô cùng tự tin, giống mấy người trên ti-vi. Ông luôn nói theo kiểu chắc như đinh đóng cột, trong khi thực tế là chẳng mấy khi chính xác.
Tôi liếc mắt ra bầu trời không gợn mây ngoài cửa sổ, trời xanh đến mức tôi phải nheo mắt mới có thể nhìn rõ.
“Con nghĩ sẽ chẳng có cơn bão nào đâu, bố ạ,” tôi nói trong lúc đang phùng mang trợn má nhét cái bánh kẹp phô mai vào miệng.
“Chắc chắn là sẽ chẳng có cơn bão nào hết,” mẹ nói, đã lẻn vào bếp từ lúc nào không biết, cứ như thế một ninja. “Đài BBC nói nắng nóng sẽ kéo dài cả 2 ngày cuối tuần... và đừng có nói khi đang ăn, Eddie,” mẹ chêm vào.
“Hmmmm,” bố ậm ừ. Đấy là kiểu của bố khi ông không đồng ý với mẹ nhưng cũng không dám phán đối.
Chẳng ai dám phản đối mẹ cả. Từ trước đến giờ mẹ vẫn luôn luôn là một con người đáng sợ. Mẹ cao, tóc cắt ngắn, đôi mắt nâu của bà có thể long lanh khi vui mà cũng có thể tóe lửa mỗi khi tức giận (và, hơi giống Người khổng lồ xanh, bạn sẽ chẳng muốn làm bà điên lên đâu).
Mẹ là một bác sĩ, nhưng không phải kiểu bác sĩ bình thường chuyên khâu chân mọi người hay tiêm cho bạn. Bố từng nói với tôi rằng mẹ “giúp đỡ những phụ nữ khác khi họ gặp rắc rối.” Ông không nói rõ là loại rắc rối nào, nhưng theo tôi đoán thì một khi bạn cần đến bác sĩ thì tức là vấn đề khá nghiêm trọng.
Bố cũng làm việc, tuy rằng làm ở nhà. Ông viết bài cho các báo và tạp chí. Không phải lúc nào bố cũng có việc. Thỉnh thoảng ông cũng rên rỉ rằng chẳng ai thèm thuê ông viết bài hoặc là nói, với một nụ cười cay đằng, “Tháng này không phải tháng của của bố, Eddie.”
Theo suy nghĩ của tôi lúc ấy, bố không có một “công việc hẳn hoi.” Không phải cho một ông bố. Một ông bố thì phải mặc com-lê, đeo cà vạt, đi làm vào buổi sáng và trở về vào chiều tối để uống trà. Bố tôi làm việc ở phòng cho khách, ngòi trước máy tính trong bộ đồ ngủ và một cái áo phông, đôi khi còn không thèm chải tóc.
Bố tôi trông cũng không giống những ông bố khác cho lắm. Ông có bộ râu quai nón bự và dày, tóc buộc đằng sau thành một cái đuôi ngựa. Ông mặc quần jeans cắt ngắn thủng lỗ chỗ và những cái áo phông bạc màu in tên của mấy band nhạc từ đời tám hoánh như Led Zeppelin hay The Who. Thỉnh thoảng ông cũng đi xăng-đan.
Gav Béo bảo ông là một “lão hippie quái đản.” Có khi nó nói đúng. Nhưng vào thời điểm đó, tôi coi đây là một lời lăng mạ, tôi ẩn nó ra và rồi bị nó nhảy lên đè vào người. Tôi lảo đảo về nhà với một cái mũi chảy máu và vài vết bầm mới.
Tất nhiên, sau đó bọn tôi làm hòa. Gav Béo có thể là một thằng đầu khấc thật - nó là một trong những đứa béo luôn tỏ ra to mồm và đáng ghét, một cách để không bị bọn bắt nạt thật sự sờ gáy - nhưng nó cũng là một trong những thằng bạn tốt và hào phóng nhất tôi được biết.
“Anh em sống chết có nhau, Eddie Quái Vật ạ,” một lần nó nói với tôi. “Anh em là tất cả.”
EddiQuái Vật là biệt danh của tôi. Sở dĩ có biệt danh này là vì tên đêm của tôi là Adams, giống như trong phim Gia đình Addams. Tất nhiên, thằng nhóc trong Gia đình Addams được gọi là Pugsley, còn Eddie Munster lại được đặt theo Con Quái Vật, nhưng vào lúc đó thì mọi chuyện có vẻ hợp lí. Tôi chết danh với cái tên đó.
Eddie Quái Vật, Gav Béo, Mickey Vòng Thép (là vì nó đeo một cái niềng răng to tướng), Hoppo (tức David Hopkins) và Nicky. Đấy là băng của bọn tôi. Nicky không có biệt danh vì nó là con gái, mặc dù nó cố gắng hết sức để giả vờ là không phải. Nó chửi bậy như một thằng con trai, trèo cây như một thằng con trai và đánh nhau cũng không kém thằng nào. Nhưng dù sao nhìn nó cũng vẫn giống con gái. Với mái tóc đỏ dài và làn da trắng nhợt, lấm tầm tàn nhang, nó trông xinh là đằng khác. Không phải tôi để ý nó đâu nhé.
Cả bọn đều đồng ý gặp mặt vào hôm thứ Bảy đó. Hầu như thứ Bảy nào bọn tôi cũng gặp nhau rồi đi qua nhà nhau chơi, hoặc ra sân chơi, có khi vào rừng. Thứ Bảy này là một ngày đặc biệt, bởi vì hôm đó có hội chợ. Nó được tổ chức hàng năm ở trong công viên, cạnh dòng sông. Năm này là năm đầu tiên cả bọn được phép đi một mình mà không bị người lớn quản lí.
Bọn tôi trông ngóng cái hội chợ này trước cả mấy tuần liền, từ khi áp phích được dán khắp thị trấn. Sẽ có trò Xe điện đụng, trò Đu quay mạo hiểm, trò Thuyền cướp biển và cả trò Bạch tuộc khổng lồ. Thật hết xảy.
“À,” tôi nói, cố nhai nuốt cái bánh kẹp phô mai nhanh nhất có thể, “con sẽ gặp bọn bạn bên ngoài công viên lúc 2 giờ ”
“Được rồi, cứ đường to mà đi,” mẹ nói. “Đừng có đi đường tắt hoặc nói chuyện với người lạ đấy.”
“Con biết rồi mà.”
Tôi trượt ra khỏi ghế và hướng tới phía cửa.
“Mang cái túi đeo hông đi của mày đi.”
“Mẹeeeee.”
“Mày thể nào cũng chơi mấy trò nhào lộn. Ví có thể rơi ra khỏi túi quần. Không lằng nhằng.”
Tôi định mở miệng nhưng rồi lại thôi. Tôi có thể cảm thấy hai má đang nóng bừng. Tôi ghét cái túi đeo hông chết tiệt. Chỉ bọn du khách béo ị mới đeo túi ở hông. Trông tôi sẽ chẳng ngầu chút nào, nhất là trước mặt Nicky. Nhưng một khi mẹ đã nói thế, thì tức là cấm có cãi.
“Ổn thôi.”
Chả ổn tí nào, nhưng đồng hồ trong bếp đang dần tiến 2 giờ và tôi cần phải đi ngay. Tôi chạy lên cầu thang, túm lấy cái túi đeo hông ngu ngốc và cho tiền vào. 5 bảng. Cả một gia tài. Sau đó tôi lại lao xuống nhà.
“Con chào mẹ.”
“Đi vui vẻ.”
Có gì tồi tệ có thể xảy ra chứ. Mặt trời đang tỏa nắng rực rỡ. Tôi đang mặc cái áo phông và đi đôi Converse yêu thích. Tôi đã có thể nghe được tiếng nhạc ầm ầm của lễ hội và ngửi thấy cả mùi bánh kẹp và kẹo bông. Hôm nay sẽ là một ngày hoàn hảo.
Gav Béo, Hoppo và Mickey Vòng Thép đã đứng đợi sẵn ở cổng khi tôi đến nơi.
“Hey, Eddie Quái Vật. túi đeo hông đẹp đấy nhỉ!” Gav Béo gào lên.
Mặt tôi chuyển tím trong chốc lát và giơ ngón giữa về phía nó. Cả 2 thằng Hoppo và Mickey Vòng Thép nắc nẻ cười vì câu đùa của Gav Béo. Sau đó Hoppo, thằngtử tế nhất, và luôn đóng vài trò người hòa giải, nói với Gav Béo, “Ít ra cái túi nhìn cũng không bê-đê như cái quần short của mày, đầu khấc ạ.”
Gav Béo ngoác miệng cười, túm lấy 2 cái ống quần và bắt đầu nhảy, đá cái chân cột đình của nó lên cao như diễn viên ba-lê. Đó là đặc điểm của Gav Béo. Bạn sẽ chẳng mấy khi xúc phạm được nó vì đơn giản là nó không biết nhục. Hoặc, ít nhất, đấy là điều nó tỏ ra với mọi người.
“Dù sao thì,” tôi nói, kể cả sau chiêu phản đòn của Hoppo thì tôi vẫn thấy cái túi lố bich, “tao cũng không đeo cái của nợ này đâu.”
Tôi cởi bỏ cái túi, nhét ví tiền vào túi quần và nhìn xung quanh. Có một bức tường bằng bụi cây khá dày chạy bo quanh công viên. Tôi nhét cái túi đeo hông vừa đủ vào trong để không ai nhìn thấy nó khi đi ngang và cũng không quá sâu để tôi còn lấy lại.
“Mày chắc là muốn để nó lại đó chứ?” Hoppo hỏi.
“Phải đấy, nếu mẹ mày mà tìm ra thì sao?” Mickey Vòng Thép nói bằng cái giọng châm chích, ê a đặc trưng.
Mặc dù nó là một phần trong băng đảng và là bạn thân của Gav Béo, tôi chưa bao giờ thích thằng này cho lắm. Nó có cái tính lạnh lùng và bẩn bựa y như cái vòng thép trong miệng nó vậy. Nhưng thôi, với việc có một thằng anh như của nó, thì việc nó như vậy cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
“Tao chả quan tâm,” tôi nói dối, nhún vai.
“Chả ai quan tâm đâu.” Gav Béo sốt ruột nói. “Chúng ta có thể quên cái túi chết tiệt đi và vào được chưa? Tao muốn chơi trò Bạch tuộc khổng lồ trước. “
Mickey Vòng Thép và Hoppo bắt đầu di chuyển - bọn tôi thường làm những gì Gav Béo muốn. Có lẽ là vì nó là đứa lớn và ồn ào nhất.
“Nhưng Nicky chưa đến,” tôi nói.
“Thì sao?” Mickey Vòng Thép nói. “Nó lúc nào chả đến muôn. Cứ đi trước thôi. Nó sẽ tìm bọn mình.”
Mickey Vòng Thép nói đúng. Nicky luôn đến muộn. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề. Bọn tôi đúng ra nên đi cùng nhau. Lang thang một mình ở hội chợ chẳng an toàn chút nào. Nhất là với con gái.
“Đợi nó thêm 5 phút nữa đi,” tôi nói.
“Mày đùa à!” Gav Béo nổi đóa lên, cố hết sức - mà thực ra là rất tệ - làm mặt cho giống John McEnroe.
Gav Béo giả rất nhiều điệu bộ. Hầu hết của dân Mỹ. Tất cả đều tệ đến mức tất cả bọn tôi thường cười lăn cười bò ra.
Mickey Vòng Thép không cười nhiều như tôi và Hoppo. Nó không thích khi cả băng có vẻ như đang chống lại nó. Nhưng dù sao thì chuyện ấy cũng chẳng quan trọng vì bọn tôi đều ngừng cười khi nghe một giọng quen thuộc cất lên, “Gì vui thế?”
Cả bọn quay người lại. Nicky đang đi qua đồi về phía bọn tôi. Như mọi khi, tôi cảm thấy nhộn nhạo trong bụng mỗi lần thấy Nicky. Giống như đột nhiên tôi thấy đói hoặc buồn nôn.
Hôm nay cô ấy không buộc tóc, thả nó thành một mớ ở sau lưng, gần như chạm đến ống chiếc quần short da ống rộng. Cô ấy mặc một cái áo khoác màu vàng không tay. Nó điểm những bông hoa nhỏ màu xanh quanh cổ. Tôi chợt thấy một ánh bạc trên cổ cô ấy. Đó là một cái dây chuyền có mặt thánh giá. Nicky vác theo một cái túi bằng vài bố lớn và trông có vẻ nặng trên vai.
“Mày đến trễ,” Mickey Vòng Thép nói. “Bọn tao đang đợi mày.”
Nó nói cứ như thể đấy là ý kiến của nó vậy.
“Có gì trong túi thế?” Hoppo hỏi.
“Bố tao muốn tao phát cái đống này trong hội chợ.”
Cô ấy lấy một tờ ra khỏi túi và giơ nó lên.
Hãy đến nhà thờ St.Thomas và ngợi ca Người. Hành trình thú vị nhất trong các hành trình.
Bố của Nicky là giáo sĩ ở nhà thờ thị trấn. Tôi chưa bao giờ đến nhà thờ - bố mẹ tôi không làm mấy chuyện đó - nhưng tôi đã nhìn thấy ông ấy quanh thị trấn. Ông ấy đeo một cái kinh tròn nhỏ và khoảng da hói trên đầu ông đầy tàn nhang, giống như trên mũi Nicky. Ông luôn cười và nói xin chào, nhưng tôi thấy ông ấy có chút đáng sợ.
“Đó đúng là một đống cứt đái hôi hám, anh bạn ạ,” Gav Béo nói.
“Hôi hám” và “cứt đái” là một trong những cụm từ Gav Béo thích sử dụng, thường đi cùng với “anh bạn ạ” và được nói một trách rất trịch thượng, vì một vài lí do dớ dẩn nào đó.
“Mày định không đi đấy à?” tôi hỏi, đột nhiên nghĩ đến việc cả ngày sẽ bị phí hoài với việc lẽo đẽo theo sau Nicky trong khi Nicky đi phát đống tờ rơi.
Cô ấy nhìn sang tôi. Cái nhìn có cái gì đó gợi tôi nhớ về mẹ mình.
“Tất nhiên là tao không rồi, Joey ạ.” cô ấy nói. “Cả bọn chỉ cần lấy vài tờ, vương vãi nó ra đâu đấy, giống như người ta đã vứt nó đi, rồi nhét chỗ còn lại vào thùng rác.”
Bọn tôi đều ngoác miệng cười. Chẳng có gì hay ho hơn việc làm những thứ bị cấm và qua mặt được người lớn.
Chúng tôi phát tán đống tờ rơi, vứt cái túi đi và bắt đầu bắt tay vào việc chính. Trò Bạch tuộc khổng lồ phải nói là cực đỉnh, Gav Béo tông vào tôi mạnh đến nỗi tôi cảm thấy xương sống mình bị nứt ở trò Xe điện đụng. Trò Tên lửa không gian bọn tôi đã chơi năm ngoái, giờ cảm thấy hơi nhạt. Sau đó là trò Rồng thép, Đu quay mạo hiểm và Thuyền cướp biển.
Bọn tôi ăn bánh mì kẹp xúc xích trong khi Gav Béo và Nicky cố gắng lùa bắt mấy con vịt để rồi nhận được bài học cay đắng rằng không phải lúc nào cũng lấy được giải mình muốn. Hai đứa ra khỏi khu đó, miệng cười và ném những con thú nhồi bông vào nhau.
Đến lúc này, chiều đã dần tàn. Cảm giác hưng phấn và adrenaline đã bắt đầu giảm xuống, đi cùng với đó là việc cả bọn nhận ra chỉ còn đủ tiền cho hai hoặc ba lần chơi nữa.
Tôi thò tay vào túi quần tìm ví. Cà tôi như bị thọt lên tận họng. Nó đã biến mất.
“Mẹ nó!”
“Sao thế?” Hoppo hỏi.
“Ví của tao. Mất rồi.”
“Mày chắc chứ?”
“Tất nhiên là tao chắc rồi.”
Dù vậy tôi vẫn cho tay vào túi còn lại tìm cho chắc. Cả hai đều trống rỗng. Khỉ thật.
“Hừm, thế lần cuối mày nhìn thấy nó là ở đâu?” Nicky hỏi.
Tôi cố nghĩ. Chắc chắn là nó vẫn còn sau lần chơi cuối cùng bởi tôi có kiểm tra sau khi xuống. Hơn nữa, bọn tôi sau đó còn mua bánh mì kẹp xúc xich. Tôi không chơi trò bắt vịt nên...
“Quầy bán bánh mì kẹp.”
Cái quầy ấy ở tí phía bên kia của hội chợ, ngược hướng với trò Bạch tuộc khổng lồ và Đu quay mạo hiểm.
“Mẹ nó!” tôi lặp lại.
“Thôi nào,” Hoppo nói. “Đi tìm nó thôi.”
“Để làm gì?” Mickey Vòng Thép nói. “Thể nào cũng có người nhặt nó rồi.”
“Tao có thể cho mày mượn ít tiền,” Gave Béo nói. “Nhưng tao cũng không còn nhiều lắm đâu.”
Tôi khá chắc là thằng này đang nói dối. Gav Béo luôn luôn có nhiều tiền hơn bọn tôi. Cũng giống như việc nó luôn có những món đồ chơi hịn nhất và cái xe đạp mới nhất, sáng chói nhất. Bố nó sở hữu một quán rượu trong vùng, The Bull, còn mẹ nó thì bán hàng đa cấp. Gav Béo khá hào phóng, nhưng tôi cũng biết tỏng nó cũng rất muốn chơi thêm vài trò nữa.
Tôi lắc đầu. “Cảm ơn, nhưng thôi, tao ổn.”
Chẳng ổn lắm. Tôi cảm thấy nước mắt đang chực trào ra khỏi mắt. Đây không phải chỉ là chuyện mất tiền. Nó còn là cảm giác mình thật ngu xuẩn, còn là một ngày hoàn hảo bị hủy hoại. Hơn thế, nó còn là viễn cảnh về việc mẹ tức giận và gào lên, “Tao đã bảo mày rồi.”
“Chúng mày đi đi,” tôi nói. “Tao sẽ quay lại tìm. Chẳng ích gì phí thời gian của cả nhóm.”
“Ngon,” Mickey Vòng Thép nói. “Thôi nào. Đi.”
Bọn chúng ngoảnh đít quay đi. Tôi có thể thấy bọn chúng thở phào nhẹ nhõm. Có phải bọn nó mất tiền hay bị hủy hoại ngày vui đâu. Tôi bắt đầu chậm rãi đi xuyên qua hội chợ đến quầy bánh mì kẹp xúc xích. Nó nằm đối diện với cái vòng quay ngựa gỗ, thế nên tôi lấy đó làm đích ngắm. Thật khó mà lờ cái vòng quay ấy đi được. Ngay giữa khu hội chợ.
Nhạc mở to, bị biến âm bởi mấy cái loa từ đời tám hoánh. Đèn nhiều màu nhấp nháy và những người chơi hét lên khi con ngựa gỗ xoay tròn, càng ngày càng nhanh hơn trên cái vòng quay cũng bằng gỗ.
Khi đến gần hơn, tôi bắt đầu nhìn xuống, láo liên đôi mắt, dò tìm trên mặt đất. Rác rưởi, giấy gói bánh mì kẹp, không có ví tiền. Phải thôi. Thằng Mickey Vòng Thép đã đúng. Hẳn ai đó đã nhặt nó lên và vét sách tiền của tôi rồi.
Tôi thở dài và nhìn lên. Đập vào mắt tôi là Kẻ Nhợt Nhạt. Tất nhiên đó không phải tên ông ấy. Sau này tối mới biết tên ông ấy là Halloran và ông ấy là giáo viên mới của bọn tôi.
Thật khó mà lờ Kẻ Nhợt Nhạt đi được. Ông ấy rất cao, và gầy. Ông mặc chiếc quần jeans bạc màu, một cái áo phông trắng rộng thùng thình và đội một cái mũ rơm. Ông trông giống một ca sĩ từ đời tám hoánh mà mẹ thôi thích. David Bowie.
Kẻ Nhợt Nhạt đứng gần quầy bánh mì kẹp xúc xích, uống một thứ xi-rô màu xanh bằng ống hút và ngắm nhìn vòng quay ngựa gỗ. À, đấy là tôi nghĩ ông ta đang nhìn vòng quay ấy.
Tôi cũng nhìn về phía ấy, và đó là lúc tôi nhìn thấy cô. Tôi vẫn còn bực mình vụ cái ví nhưng cũng đồng thời là một thằng nhóc 12 tuổi với lượng hoóc-môn đang sôi sùng sục. Không phải đêm nào trong phòng tôi cũng đọc truyện tranh bằng ánh đèn pin dưới tầm ga giường.
Cô gái đang đứng cạnh một gã tóc vàng mà tôi chỉ nhớ mơ hồ là đã gặp đâu đó trong thị trấn (bố hắn là cảnh sát hay gì đó), nhưng tâm trí tôi lập tức gạt cô ra khỏi đầu. Đáng buồn là cái đẹp, cái đẹp thực thụ, làm lu mờ tất cả mọi người và mọi thứ xung quanh nó. Anh bạn tóc vàng cũng đẹp mã, nhưng Cô-gái-cạnh-vòng-quay-ngựa-gỗ (tôi luôn nghĩ về cô như vậy, ngay cả sau khi tôi biết tên cô) đẹp thực sự. Cao và gầy, suối tóc dài màu đen, đôi chân thậm chí còn dài hơn, mịn màng và nâu bóng lên dưới ánh mặt trời. Cô mặc váy ngắn xếp tầng, áo vest rộng thùng thình in chữ “Relax” bên ngoài áo lót dạ quang màu xanh lá. Cô vén tóc sau một bên tai, để lộ ra một chiếc khuyên tai sáng lóa lên dưới ánh mặt trời.
Tôi hơi xấu hổ khi phải nói rằng lúc đầu tôi không chú ý nhiều đến khuôn mặt cô lắm, nhưng khi cô quay người sang trò chuyện với anh bạn tóc vàng thì tôi đã không thất vọng. Cô ấy đẹp đến trụy tim với đôi môi căng mọng và cặp mắt xếch màu quả hạnh.
Và rồi mọi thứ biến mất.
Một phúc trước cô ấy vẫn còn ở đó, khuôn mặt cô vẫn ở đó, phút tiếp theo đã là một thứ âm thanh khủng khiếp, thủng màng nhĩ, như thể một con quái thú nào đó rống lên từ tâm Trái Đất. Lát sau, tôi nhận ra đó là âm thanh từ trục bàn quay của vòng quay ngựa gỗ bị gãy sau quá nhiều năm sử dụng và quá ít lần bảo dưỡng. Tôi thấy một ánh bạc lóe lên và mặt cô gái, hay đúng hơn là nửa mặt, bị xé toạc, để lộ một đống lổn nhổn thịt, xương và máu. Rất nhiều máu.
Vài phần trăm giây tiếp theo, trước cả khi tôi có cơ hội mở miệng và hét lên, một vật khổng lồ màu tím đen vụt qua. Một vụ va chạm điếc tai - một con ngựa gỗ bay ra và tông vào quầy bánh mì kẹp, theo sau là cơn mưa những mảnh kim loại và gỗ - và thêm nhiều tiếng hét và kêu gào khi mọi người cố gắng tránh khỏi vụ va chạm. Tôi nghiêng người né và ngã xuống đát.
Nhiều người khác ngã đè lên tôi. Chân ai đó dậm vào cổ tay tôi. Tôi ăn một đầu gối vào đầu, sườn bị một chiếc bốt thụi. Tôi kêu từng tiếng ngắn đau đớn nhưng rồi may sao bó được hai tay quanh thân và lăn người ra chỗ khác. Tôi kêu lên lần nữa. Cô ấy đang nằm ngay cạnh tôi. Chúa rủ lòng thương, mái tóc đã che đi khuôn mặt, nhưng tôi nhận ra cái áo phông và chiếc áo lót phản quang, dù rằng chúng thấm đẫm máu. Máu chảy dọc chân cô ấy. Một mảnh kim loại khác đâm xuyên qua xương, ngay bên dưới đầu gối. Chân dưới của cô ta gần như lìa ra khỏi phần trên, chỉ còn được kết nối bởi dây chằng.
Tôi bắt đầu trườn khỏi chỗ đó - cô ta chết chắc rồi. Tôi chẳng thể làm gì - nhưng ngay lúc đó bàn tay cô ta với lên và nắm chặt lấy vai tôi.
Cô ta quay khuôn mặt đẫm mãu, bị xé toạc của mình lên nhìn tôi. Đâu đó, trong đống bầy nhầy màu đỏ, một con mắt màu nâu nhìn chằm chặp vào tôi. Con mắt còn lại nằm lủng lẳng bên phần má bị hủy hoại của cô.
“Cứu tôi,” cô ta the thé. “Cứu tôi.”
Tôi muốn bỏ chạy. Tôi muốn gào thét, khóc lóc và nôn ọe cùng một lúc. Tôi hẳn đã làm cả 3 việc nếu lúc đó không có một bàn tay lớn, cứng cáp đặt lên vai cùng với giọng nói nhẹ nhàng “Không sao đâu, ta biết cháu sợ, nhưng cháu cần phải nghe kĩ và làm theo những gì ta bảo.”
Tôi quay người lại. Kẻ Nhợt Nhạt đang nhìn xuống tôi. Chỉ đến lúc này tôi mới để ý rằng khuôn mặt ông ta, dưới chiếc mũ rộng vành, trắng bệch như cái áo phông của ông ta vậy. Ngay cả đôi mắt cũng mang một màu xám trong u ám. Ông ta trông như một bóng ma, hoặc ma cà rồng, và trong bất kì trường hợp nào thì tôi chắc hẳn cũng sẽ vẫn cảm thấy sợ con người này. Nhưng lúc này thì ông ta là người lớn duy nhất, và tôi thì cần một người lớn giúp đỡ.
“Cháu tên là gì?” ông hỏi.
“Ed-Eddie.”
“Được rồi, Eddie. Cháu không bị thương chứ?”
Tôi lắc đầu.
“Tốt. Nhưng cô nương này thì có đấy, chúng ta cần phải giúp cô ấy, được chứ?”
Tôi gật.
“Đây... cầm vào chân cô ấy, chỗ này, bóp chặt vào nhé, thật chặt.”
Ông cầm tay tôi đặt lên chân cô gái. Máu nóng và nhớp nháp chảy dưới tay tôi.
“Được chưa?”
Tôi lại gật. Tôi có thể nếm được vị của sợ hãi, đắng và tanh mùi máu. Tôi có thể cảm thấy từng dỏng chảy của máu giữa các ngón tay, cho dù tôi đang cố sức ấn thật chặt...
Ở đằng xa, xa hơn nhiều so với khoảng cách thực tế, tôi có thể nghe thấy nhạc đập ầm ầm và những tiếng hét thích thú. Cô gái đã ngừng kêu khóc. Giờ cô nằm bất động và lặng yên, tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng thở rất yếu, và ngay cả cái tiếng ấy cũng đang yếu dần đi.
“Eddie, chú cần cháu tập trung. Được chứ?”
“Được ạ.”
Tôi nhìn chằm chằm vào Kẻ Nhợt Nhạt. Ông ta rút thắt lưng ra khỏi quần. Nó là một cái thắt lưng dài, quá dài so với cái eo con kiến của ông ta, và nó còn được đục thêm những lỗ nhỏ hơn. Buồn cười thật, tôi lại đi để ý những tiểu tiết vớ vẩn trong tình huống tồi tệ thế này. Ví dụ như tôi nhận thấy giày của cô gái đã bị tuột ra. Một đôi giày nhựa dẻo. Hồng và lấp lánh. Và tôi nghĩ có lẽ cô ấy cũng chẳng cần đến nó nữa đâu, nhất là với việc chân bị xẻ làm hai thế này.
“Cháu vẫn tập trung đấy chứ, Eddie?”
“Vâng.”
“Tốt. Gần xong rồi. Cháu làm tốt lắm, Eddie.”
Người Nhợt Nhạt vòng cái thắt lưng qua phần đùi cô. Ông rút mạnh, rất mạnh. Ông ta khỏe hơn tôi tưởng. Gần như ngay lập tức tôi có thể cảm thấy máu đã chảy chậm lại.
Ông ta nhìn tôi và gật đầu. “Cháu bỏ tay ra được rồi. Xong rồi.”
Tôi bỏ tay ra. Chúng bắt đàu run rẩy do tôi đã nắm quá chặt. Tôi vòng tay ôm lấy cơ thể.
“Cô ấy sẽ ổn chứ ạ?”
“Chú không biết. Mong là sẽ cứu được cái chân.”
“Thế còn khuôn mặt?” tôi thì thầm.
Ông ta ngước lên nhìn tôi, mọt thứ gì đó trong đôi mắt xám ấy làm tôi đứng hình. “Cháu đã nhìn thấy mặt cô ấy trước đó à, Eddie?”
Tôi mở miệng, nhưng chẳng biết nói gì, cũng không hiểu tại sao giọng ông ta không còn vẻ thân thiện nữa.
Ông ta quay đi và lặng lẽ nói. “Cô ấy sẽ sống. Đó mới là điều quan trọng.”
Đúng lúc đó trời vỡ ra một tiếng sấm inh tai và những giọt mưa đầu tiên bắt đầu tiên.
Tôi đoán đó là lần đầu tiên tôi hiểu được rằng mọi chuyện có thể chuyển biến nhanh đến mức nào. Tất cả những gì chúng ta coi là hiển nhiên đều biến mất. Có lẽ đó là lí do tôi làm việc đó. Để bám víu vào thứ gì đó. Để giữ nó an toàn. Dù gì đó cũng là điều tôi đã tự nói với bản thân.
Nhưng giống như rất nhiều lời tự bạch, có khi nó cũng chỉ là một đống cứt đái hôi hám mà thôi.
Báo địa phương gọi chúng tôi là những anh hùng. Họ đưa ông Halloran và tôi trở lại công viên và chụp ảnh chúng tôi.
Bằng một cách thần kì nào đó, 2 người trên con ngựa gỗ bị văng ra chỉ bị gãy vài cái xương, thêm vài vết cắt và bầm. Một số ít đứng cạnh bị dính vài mảnh gỗ và chỉ cần khâu vài mũi, số khác bị ran xương sườn trong cuộc giẫm đạp tìm lối thoát thân.
Ngay cả Cô-gái-bên-vòng-quay-ngựa-gỗ (tên thật là Elisa) cũng sống sót. Các bác sĩ đã thành công trong việc gắn lại chân cho cô và giữ lại con mắt. Báo chí gọi đó là một điều kì diệu. Họ không nói điều gì xảy ra với bên mặt còn lại.
Dần dần, giống như mọi vụ bê bối hay thảm kịch nào, sự hứng thú với vụ này nhạt dần. Gav Béo ngừng nói mấy câu đùa dở tệ (chủ yếu là về việc mất chân), Mickey Vòng Thép cũng chán việc gọi tôi là “Người hùng bé nhỏ” hay hỏi tôi đã để áo choàng siêu nhân ở đâu. Những tin tức và chuyện phiếm khác đã thế chỗ vụ đó. Có một vụ tông xe trên đường A36, một đứa họ hàng của một đứa ở trường chết, rồi thì Marie Nữ Tu, đứa đang học lớp năm, có bầu. Cuộc sống, như nó vốn thế, tiếp diễn.
Tôi chẳng bận tâm. Tôi có chút chán ghét với câu chuyện. Và tôi cũng không phải loại thích trở thành trung tâm của sự chú ý. Hơn nữa, càng ít nói về nó, tôi càng ít nghĩ về khuôn mặt rách toạc của cô gái. Cơn ác mộng dần biến mất. Tôi cũng ít thủ dâm hơn.
Vài lần mẹ hỏi tôi có muốn đến thăm cô gái không. Tôi luôn luôn từ chối. Tôi không muốn gặp lại cô, không muốn nhìn thấy khuôn mặt bị hủy hoại ấy, cũng không muốn bị đôi mắt nâu ấy buộc tội: Tôi biết cậu định bỏ chạy, Eddie. Nếu ông Halloran không tóm lấy cậu, cậu đã bỏ tôi lại đến chết.
Tôi nghĩ là thầy Halloran có đến thăm. Rất nhiều là đằng khác. Có thể ông ấy có thời gian. Ông ấy không phải đi dạy ở trường cho đến tận tháng chín. Cũng dể hiểu khi mà ông đã chuyển vào căn nhà gỗ nhỏ sớm hơn vài tháng để có thể ổn định cuộc sống trước khi đi dạy.
Tôi nghĩ đó là một ý hay. Nó cho mọi người cơ hội để làm quen với ông ta. Nó giải quyết tất cả các câu hỏi trước khi ông ta bước vào lớp:
Da ông ấy bị sao vậy nhỉ? Ông ấy bị bệnh bạch tạng, người lớn từ tốn giải thích. Điều đó có nghĩa là ông ấy thiếu mất một thứ gọi là “sắc tố”, yếu tố làm da mọi người có màu hồng hay nâu. Còn đôi mắt? Cũng thế thôi. Chúng cũng bị thiếu sắc tố. Vậy ông ấy không phải một kẻ lập dị, một con quái vật hay một bóng ma? Không, chỉ là một người bình thường với một tình trạng bệnh lí.
Họ đã nhầm. Có rất nhiều tính từ để miêu tả thầy Halloran, nhưng bình thường không phải là một trong số ấy.
Vấn đề là, bọn tôi chưa bao giờ thống nhất được với nhau đâu là điểm khởi đầu. Là khi Gav Béo nhận được hộp phấn vào ngày sinh nhật? Là khi chúng tôi bắt đầu vẽ những hình nhân bằng phấn hay là khi chúng bắt đầu tự đông xuất hiện? Hay từ lúc vụ tai nạn khủng khiếp xảy ra? Hay khi họ tìm thấy thi thể đầu tiên?
Có quá nhiều điểm khởi đầu. Bất cứ cái nào trong số chúng, tôi nghĩ, cũng có thể coi là điểm đầu của câu chuyện. Nhưng thực sự, tôi nghĩ tất cả bắt đầu vào cái ngày diễn ra hội chợ. Đó là ngày tôi nhớ rõ nhất. Cô gái ở trò chơi ngựa gỗ rõ ràng đóng một phần rất lớn, nhưng cũng một phần bởi vì hôm đó là ngày mà mọi thứ trở nên bất thường.
Nếu thế giới của chúng là một quả cầu phủ tuyết, thì đó là ngày mà một vị thánh đi qua, lắc mạnh và rồi lại đặt nó xuống. Kể cả khi những bông tuyết đã rơi trở lại vị trí cũ, mọi thứ cũng không còn được như trước nữa. Không hẳn. Chúng có thể trông vẫn như cũ nhưng, ở bên trong, mọi thứ đã khác rồi.
Đó cũng là ngày đầu tiên tôi gặp thầy Halloran, vì vậy, tôi đoán rằng, trong tất cả, đây một điểm khởi đầu tốt.
Đầu cô gái nằm dựa trên một đụn nhỏ những lá màu nâu cam.
Đôi mắt màu hạnh nhân của cô nhìn chằm chằm lên tầng cây tiêu huyền, dẻ gai và sồi, nhưng chẳng thể nhìn được những vệt nắng đang rụt rè xuyên qua từng lớp cành lá và nhuộm vàng nền đất. Chúng không chớp khi chú bọ cánh cứng đen nhánh bay vụt qua lòng đen. Chúng chẳng thấy gì nữa, ngoại trừ bóng tối.
Cách đó một khoảng ngắn. một bàn tay nhợt nhạt vươn ra khỏi lớp lá như đang tìm sự trợ giúp, hoặc để đảm bảo rằng nó không ở một mình. Nó chẳng tìm thấy gì cả. Phần cơ thể còn lại của cô nằm ngoài tầm với, được giấu ở một chỗ kín khác trong rừng.
Gần đó, một cành cây bị bẻ gẫy, như tiếng pháo nổ giữa lòng tĩnh lặng, mấy chú chim phóng ra khỏi bụi cây. Có ai đó đang đến.
Chúng quỳ xuống bên cạnh cái xác vô hồn. Bàn tay chúng vuốt ve mái tóc và chọc chọc vào gò má đã lạnh, ngón tay run rẩy nhưng thích thú. Chúng nhặt đầu cô lên, phủi bớt vài chiếc lá đang bám vào vết cắt ở cổ, cẩn thận bỏ nó vào một cái túi, bên trong là vài mẩu phẩn vỡ.
Sau một thoáng đắn đo, chúng thò tay vào và vuốt mắt cho cô. Kéo khóa kín cái túi, chúng đứng dậy và mang nó đi.
Vài giờ sau, cảnh sát và pháp y xuất hiện. Họ đánh số, chụp ảnh, lấy mẫu và cuối cùng đưa thi thể đến nhà xác, nơi nó nằm đó vài tuần, chờ đợi phần còn lại của mình.
Điều ấy không bao giờ xảy ra. Mặc cho những nỗ lực của các thanh tra và người dân trong thị trấn, mặc cho nhiều cuộc tìm kiếm, hỏi cung được thực hiện, phần đầu của cô gái không bao giờ được tìm thấy, cô mãi mãi không được toàn thây.
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
Là một gia đình, bọn mình tích cực nuôi trồng đủ thứ.
Mình giữ ảnh từ những chuyến đi sớm mua hạt và chọn cây giống. Mình trông cực kì phấn khích.
Trước đó, mình được nhận bộ đồ làm vườn.
Nó không hề thay đổi theo năm tháng.
Bạn có thể coi đó là bộ đồng phục của mình.
Gần như lúc nào mình cũng mặc váy kaki ngắn và đội một chiếc mũ màu đỏ để chống nắng. (Đỏ là màu yêu thích của mình bởi vì nó rất quan trọng trong thế giới của cây cối.)
Mình mặc thêm một cái quần màu da có miếng bảo vệ đầu gối. Và cả một đôi ủng da buộc dây.
Bộ đồ này được thiết kế để hợp với mình.
Mái tóc dài, quăn và rối của mình được vuốt ra sau và buộc lại bằng một cái cặp. Mình có cả kính hiển vi (giống như cái của người lớn) để quan sát mấy vật nhỏ.
Trong vườn, mặc bộ đồ này, mình đã phát hiện ra (bằng việc phân tích hóa chất khi mới 7 tuổi) rằng những chấm màu nâu xuất hiện trên đồ đạc ở sân sau là phân ong.
Mình ngạc nhiêu là không nhiều người phát hiện ra điều này trước đây.
Trong điều kiện lí tưởng thì mình có thể dành hai mươi bốn tiếng một ngày để thực hiện việc nghiên cứu.
Tuy nhiên nghỉ ngơi đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của trẻ nhỏ.
Mình đã tính toán chính xác nhịp độ sinh học của bản thân và nhận ra mình cần 7 tiếng và 47 phút nghỉ ngơi mỗi đêm.
Không phải chỉ vì mình bị ám ảnh bởi con số 7 đâu nhé.
Dù thật ra mình có bị ám ảnh thật.
Mà là vì nhịp độ sinh học của mình đã được định sẵn. Hoàn toàn là do các hóa chất.
Không phải mọi thứ đều vậy sao ?
Mình được bảo là cứ như người trên mây.
Có lẽ vì thế mà mình học hành không ổn lắm ở trường và chẳng có nhiều bạn.
Nhưng khu vườn thì cho mình cơ hội để thấy một khía cạnh khác của tình bạn.
Hồi mình 8 tuổi, một đàn vẹt lưng xanh hoang dã chuyển đến ở trong cây cọ đuôi cá cạnh hàng rào gỗ sau nhà.
Một đôi chim làm tổ và mình được chứng kiện sự ra đời của những chú vẹt con.
Mỗi con chim bé nhỏ ấy đều kêu chiêm chiếp theo một kiểu khác nhau.
Mình khá chắc là chỉ con vẹt mẹ và mình biết điều này.
Khi chú vẹt nhỏ nhất bị đẩy khỏi tổ, mình đã cứu sinh vật tí hon ấy, đạt tên là Bị Rơi.
Khoảng thời gian đầu, mình phải đút bằng tay cho con vẹt suốt-ngày-đòi-ăn này, nhưng may sao mọi chuyện cũng ổn.
Khi Bị Rơi cuối cùng cũng đã đủ lông đủ cánh, mình đem nó trở lại với đàn.
Điều đó làm mình cực kì vui sướng.
Nhưng cũng đau lòng không kém.
Mình rút ra được kinh nghiệm rằng vui sướng và đau lòng thường đi đôi với nhau.
Thời đi học, ở trường tiểu học Rose, mình chỉ có một người bạn đúng nghĩa.
Tên bạn ấy là Magaret Z. Buckle.
Bạn ấy tự thêm chữ Z vào vì bạn ấy vốn không có tên đệm, trong khi bạn ấy lại khao khát được khác biệt.
Nhưng Magaret (đừng bao giờ gọi bạn ấy là Peggy) chuyển đi vào mùa hè năm lớp 5. Mẹ bạn ấy là một kĩ sư dầu khí và cô ấy phải chuyển công tác đến Canada.
Bất chấp khoảng cách, mình vẫn nghĩ hai đứa vẫn sẽ thân nhau như xưa.
Khoảng thời gian đầu thì thế.
Nhưng mình đoán là con người Canada cởi mở hơn ở đây nhiều, bởi vì ở Baskersfield này thì chỉ có mình và Magaret chống lại cả thế giới.
Ở bển bạn ấy có đủ loại bạn.
Giờ đây, vào những lần hiếm hoi bọn mình trò chuyện, bạn ấy mang ra những thứ như cái áo dài tay bạn ấy mới mua. Hay một ban nhạc bạn ấy thích.
Bạn ấy không muốn nói về chiropterophily, tức là sự thụ phấn của thực vật thông qua dơi.
Bạn ấy tiếp tục sống.
Không thể trách bạn ấy được.
Vì Magaret đã đi Canada nên mình hi vọng là trường trung học Sequoia sẽ mang đến những người bạn mới.
Mọi việc không dược như vậy.
Mình khá nhỏ con so với tuổi, nhưng mình háo hức về việc trở thành một “Cự Sam khổng lồ.” (*)
Chỉ riêng việc linh vật của trường là một cái cây đã có vẻ rất hứa hẹn rồi.
Trường nằm ở phía bên kia thị trấn và lẽ ra nó phải cho mình một khởi đầu mới, bởi vì tất cả bọn bạn ở tiểu học đều vào trường Emerson.
Bố mẹ đã xin được quận giấy phép đặc biệt để mình được học trái tuyến.
Bố mẹ tin rằng mình sẽ chẳng bao giờ tìm được một giáo viên có thể hiểu được mình. Còn mình thì nghĩ đúng hơn là mình sẽ chẳng bao giờ hiểu được một giáo viên nào.
Có một sự khác biệt.
Ngay trước khi trường khai giảng vào mua thu, mình cảm thấy háo hức giống như khi chờ hoa xác thối nở vậy.
Mình trải qua một khoảng thời gian say mê với việc trồng các loài hoa xác thối.
Đầu tiên thì mình bị cuốn hút bởi những bông hoa mang hình dáng kì lạ.
Các cánh hoa màu tím đỏ đậm trông như những tấm vải nhung lót quan tài. Và nhụy hoa dài, ngả vàng, xủa ra ở giữa thì giống ngón tay của một ông già bị bệnh vàng da.
Nhưng loài cây này nổi tiếng nhất bởi mùi hương của nó. Khi bông hoa nở, nó giống như có một xác chết nảy lên từ dưới đất.
Mùi hôi chỉ đơn giản là quá sức kinh tởm. Thực sự, mình đã nói giảm nói tránh rồi đấy.
Không một con vật nào muốn đến gần, chứ đừng nói đến việc nhóp nhép bông hoa màu rượu vang kì lạ và bốc mùi ấy.
Nó giống như một loại nước hoa phản tác dụng.
Mình tin rằng đi học trung học sẽ là một bước ngoặt của cuộc đời, mình tự thấy bản thân giống loài cây lạ ấy, chuẩn bị mở từng cánh hoa.
Nhưng thực lòng thì mình hi vọng mình sẽ không làm mọi thứ thối um lên.
Mình cố hòa nhập.
Mình nghiên cứu những đứa thiếu niên, cũng khá thú vị vì mình cũng gần đến tuổi ấy rồi.
Mình đọc về các vụ thiếu niên lái xe, thiếu niên bỏ trốn, và tỉ lệ thiếu niên bỏ học. Mình bị shock.
Nhưng không một nghiên cứu nào cung cấp nhiều thông tin về lĩnh vực mình quan tâm số một:
Tình bạn tuổi thiếu niên.
Nếu truyền thông mà tin được, thì thiếu niên đang quá bận rộn phạm pháp hay tự tử và giết người để mà có thời gian hình thành bất kì một mối quan hệ nào.
Trừ khi, tất nhiên, những mối quan hệ ấy tạo ra một đứa trẻ.
Văn học có cả đống ví dụ về chuyện đó.
Ngay trước khi bắt đầu đi học ở trường, mình được kiểm tra sức khỏe.
Kết quả tốt hơn rất, rất nhiều điều mình mong đợi bởi vì lần đầu tiên trong đời, sức khỏe mình có vấn đề thực sự.
Mình đã chờ đợi chuyện này 12 năm ròng rã.
Mình cần một cái kính.
Tuyệt, độ cận nhỏ.
Và tuyệt hơn là mình còn bị mỏi mắt nữa (rõ ràng là do mình tập trung quá lâu vào một thứ trước mặt mình quá lâu, một quyển sách hay màn hình máy tính chẳng hạn, và không đảo mắt đi chỗ khác để cho mắt nghỉ ngơi).
Thế nên mình tự chúc mừng bản thân vì thành tích này vì từ lâu mình đã mong bị một dạng cận thị nào đó, và giờ thì mình đã đạt được.
Sau đợt kiểm tra thì bọn mình đến gặp một bác sĩ nhãn khoa để đo kính. Mình bị cuốn hút bởi mấy cái gọng trông như của Gandhi.
Chúng tròn, gọng mỏng, và theo lời cô phụ trách khu này thì trông rất “hoài cổ”.
Chúng thật hoàn hảo vì mình dự định tiến vào thế giới mới tươi đẹp trong hòa bình.
Một tuần trước ngày nhập học, mình đã đưa ra một quyết định quan trọng.
Cả nhà đang ăn sáng, mình nuốt một miếng to món Healthy-Start, thực ra là củ dền phủ hạt lanh (đều được trồng tại gia), và nói:
“Con biết con sẽ mặc gì cho ngày đầu tiên ở Sequoia rồi.”
Bố đang ở chỗ bồn rửa, cắn trộm một miếng bánh rán vòng. Mình đã cố gắng hết sức để giữ cho hai con người này ăn uống lành mạnh, nhưng có vẻ đồ ăn nhanh vẫn chiếm phần lớn thói quen ăn uống của họ.
Bố nuốt vội một miếng bánh rồi hỏi:
“Thế à, con định mặc gì?”
Mình cảm thấy vui.
“Con sẽ mặc bộ đồ làm vườn.”
Có vẻ bố đã cắn một miếng quá to, bởi vì có tiếng như miếng bánh bị kẹt trong cổ bố. Ông cố nói:
“Con chắc chứ?”
Tất nhiên là mình chắc chắn. Nhưng mình vẫn hạ giọng.
“Vâng. Nhưng con sẽ không đeo ống nhòm ở cổ - nếu đó là việc mà bố đang lo.”
Mẹ mình, người mà đến giờ phút này vẫn đang lấy bát đũa ra khỏi máy rửa, quay người lại. Mình có thể thấy mặt mẹ. Bà trông khó chịu. Như thể bà vừa cất đi một đống những đĩa bẩn vậy, điều mà thực ra là đã từng xảy ra.
Mặt mẹ giãn ra và bà nói:
“Con yêu, thật là một ý tưởng tuyệt vời. Tuy nhiên mẹ nghĩ là... liệu các bạn có hiểu được không ? Có khi mặc đồ sáng màu sẽ tốt hơn đấy. Một thứ gì màu đỏ chẳng hạn. Con yêu màu đỏ mà.”
Họ chẳng hiểu gì cả.
Ngày đầu tiên ở trung học là cơ hội để mình giới thiệu lại bản thân. Mình cần cho mọi người cảm nhận được một phần nhân dạng của mình, trong khi giữ lại một vài khía cạnh căn bản về mặt tính cách.
Mình không thể ngăn bản thân giải thích.
“Con sẽ chứng tỏ cho mọi người thấy niềm đam mê của con với thế giới tự nhiên.”
Mình thấy họ liếc mắt nhìn nhau.
Bố vẫn còn dính một ít kem phủ ở răng cửa, nhưng mình không định cho bố biết, nhất là sau khi ông nói:
“Tất nhiên rồi. Bố tán thành.”
Mình nhìn xuống bát và bắt đầu đếm những hạt lanh, theo thang 7.
7 14 21 28 35 42 49 56 63 70
77 84 91 98 105 112 119 126 133 140
147 154 161 168 175 182 189 196 203 210
217 224 231 238 245 252 259 266 273 280
287 294 301308 315 322 329 336 343 350
357 364 371 378 385 392 399 406 413 420
427 434 441 448 455 462 469 476 483 490
497 507 511 518 525 532 539546 553 560
Đó là một kĩ thuật tẩu thoát.
Buổi chiều hôm sau, một tờ Teen Vogue xuất hiện trên giường mình.
Tất cả các báo vào thời điểm đó đều xoay quanh chủ đề “Mùa tựu trường.”
Trên trang bìa là một thiếu nữ với mái tóc vàng giống màu chuối đang ngoác miệng cười. Tiêu đề viết:
BỘ ĐỒ CỦA BẠN CÓ THỂ HIỆN ĐƯỢC CON NGƯỜI BẠN?
Chẳng ai nhận là đã để tờ tạp chí ở đó cả.
(*)Nguyên tác là “Giant Sequoia” - một loài cây có kích thước vô cùng to lớn.
Nhưng mình biết điều đó và vì thế cũng được xoa dịu phần nào. Ít nhất là với mình.
Ai đó có thể được yêu thương quá nhiều không nhỉ ?
Cả
Bố và mẹ
Đều
Thực sự
Rất
Y-Ê-U
Mình.
Mình nghĩ việc chờ đợi quá lâu một thứ gì đó làm nó trở nên đáng trọng hơn.
Mối liên hệ giữa kì vọng và [...]
Ôi lại lạc đề rồi. Đấy là một trong những điểm yếu của mình và cũng là lí do mà mặc dù mình học giỏi, mình không bao giờ là học trò cưng của cô giáo.
Không bao giờ.
Giờ thì mình sẽ tập trung vào các sự kiện.
Mẹ mình đã cố gắng mang thai trong 7 năm.
Nghe có vẻ là một khoảng thời gian dài để làm một việc gì đó, bởi định nghĩa y học của vô sinh là giao hợp đúng thời điểm trong vòng 12 tháng mà không có kết quả.
Và vì mình có hứng thú với mọi thứ về y dược, cái ý tưởng về chuyện đó, đặc biệt là với bất kì mức độ thường xuyên và độ hứng thú nào, làm mình muốn nôn mửa (mà theo như sách y học định nghĩa, là một cảm giác không thoải mái ở vùng bụng dưới).
Hai lần trong những tháng năm đó mẹ mình đã tiểu vào một cái que nhựa và làm cái dụng cụ chẩn đoán ấy chuyển xanh.
Nhưng cả hai lần mẹ đều không thể giữ được bào thai. (Cái từ ấy [...]
Mẻ bánh của mẹ không phồng lên.
Và mình là hy vọng tiếp theo.
Vào ngày thứ bảy của tháng thứ bảy (đã hiểu sao mình lại thích con số này chưa?) bố mẹ lái xe về phía bắc để tới một bệnh viện cách nhà 257 dặm, nơi mà họ đã đặt tên cho mình dưới một cái cây hàn đới và thay đổi cả thế giới.
Hoặc ít nhất là thế giới của họ.
Hết giờ. Có thể con số không phải là 257 dặm, nhưng mình thích nghĩ như thế. (2+5=7. Và 257 là một số nguyên tố. Siêu siêu đặc biệt. Mình thích thế giới của mình có trật tự.)
Quay trở lại ngày nhận nuôi. Theo như lời bố kể, mình không hề khóc, nhưng mẹ mình thì khóc suốt đoạn đường từ Đường liên bang phía nam số 5 cho đến tận lối rẽ 17B.
Mẹ mình chảy nước mắt mỗi khi bà vui. Khi buồn, mẹ chỉ im lặng.
Mình tin rằng hôm đó cảm xúc của mẹ có hơi chập cheng. Bọn mình chấp nhận điều ấy vì mẹ cười phần lớn thời gian. Rất tươi.
Khi bố mẹ mới của mình cuối cùng cũng về tới căn nhà trát vữa một tầng của họ trong khu đô thị mới ở cuối thung lũng San Joaquin, họ đều kiệt sức.
Và cuộc sống gia đình của họ chỉ vừa mới bắt đầu thôi. Nếu bạn có thể thấy mình, có khi bạn sẽ nói rằng mình chẳng có đặc tính của một chủng tộc cụ thể nào.
Mình là kiểu “con người nhiều màu sắc.”
Bố mẹ mình thì không được thế.
Họ là hai người da trắng trắng nhất trên thế giới (không phóng đại đâu nhé).
Họ trắng đến nỗi mà, họ trông như màu xanh buồn bã. Không phải họ có vấn đề về tuần hoàn máu, họ chỉ thiếu màu sắc.
Mẹ có mái tóc mỏng màu đỏ và đôi mắt màu xanh nhạt, rất nhạt. Nhạt đến nỗi trông gần như xám. Mà tất nhiên là không phải thế.
Bố thì cao và gần như hói. Bố bị viêm da tiết bã nhờn, một dạng bệnh lý làm cho da luôn trang tình trạng ngứa.
Việc này mang lại cho mình nhiều cơ hội để quan sát và nghiên cứu, nhưng với bố thì bệnh này chẳng dễ chịu gì.
Nếu bạn đang tưởng tượng ra bộ ba này và ghép bọn mình lại cạnh nhau, mình muốn nói là mặc dù ngoại hình mình không giống họ ở bất cứ điểm nào, bằng cách nào đó mà bọn mình trông lại giống một gia đình.
Ít nhất là mình nghĩ thế.
Và mình chỉ cần có thế.
Bên cạnh con số 7, mình có hai nỗi ám ảnh lớn. Các loại bệnh lý. Và cây cối.
Nói bệnh lý, thì ý mình là bệnh lý của con người.
Tất nhiên là mình có khám cho cả bản thân. Tuy nhiên thì bệnh của mình nhẹ thôi và không nguy hiểm gì đến tính mạng.
Mình có quan sát và ghi chép cả bố và mẹ, mặc dù họ không cho phép mình chẩn đoán cho họ.
Lí do duy nhất mà mình thường xuyên rời nhà (không tính việc đến cái trại-tù-bắt-buộc mà còn có tên khác là trường trung học và chuyến đi hàng tuần đến thư viện trung tâm) là để quan sát bệnh tật trong cộng đồng.
Ưu tiên số một của mình luôn luôn là ngồi hàng giờ mỗi ngày ở bệnh viện, nhưng hóa ra mấy cô y tá lại không thích việc đó cho lắm.
Kể cả là mình có cắm chốt ở phòng chờ và giả vờ đọc sách đi nữa.
Thế nên mình chuyển hướng sang khu trung tâm thương mại, nơi mà may mắn là có kha khá con bệnh.
Nhưng mình không đến để mua sắm.
Ngay từ khi còn nhỏ, mình đã luôn mang sổ ghi chép và làm những thẻ chẩn đoán.
Hiện tại thì mình đặc biệt quan tâm tới các bệnh da liễu và mình chỉ chụp ảnh khi các mục tiêu (kể cả bố mình) không để ý.
Đam mê thứ hai của mình: cây cối.
Chúng sống, phát triển, sinh sôi, lấn chiếm và cắm rễ sâu vào lòng đất xung quang chúng ta suốt cả ngày.
Chúng ta coi điều ấy là bình thường.
Mở to mắt ra, mọi người.
Kì diệu quá đi ấy chứ.
Nếu cây cối mà biết nói thì mọi chuyện khác hẳn rồi. Tuy nhiên chúng giao tiếp bằng màu sắc và hình dáng và kích thước và kết cấu.
Chúng không kêu meo meo hay sủa hay đăng trạng thái.
Chúng ta nghĩ chúng không có mắt, nhưng chúng chúng biết hướng của mặt trời và khi nào trăng lên. Chúng không chỉ cảm nhận cơn gió, chúng nghiêng mình theo nó.
Trước khi bạn nghĩ mình bị điên (điều mà cũng có thể lắm) thì hãy nhìn ra ngoài đi.
Ngay lập tức.
Mong là trước mắt bạn không phải là một bãi đỗ xe hoặc là hông một tòa nhà.
Mình đang tưởng tượng là bạn đang nhìn một cái cây cao với những chiếc lá mỏng manh. Bạn còn nhìn thấy một đồng cỏ rộng lớn đang đung đưa theo gió. Xa xa là đám cây dại thì đang lách mình qua một kẽ nứt trên vệ đường. Chúng ở khắp quanh ta.
Mình đang yêu cầu bạn tập trung theo một kiểu mới và nhìn nhận rằng tất cả bọn chúng đều đang Sống.
Với một chữ S viết hoa.
Thành phố mình ở, giống như hầu hết các thung lũng trung tâm ở California, bằng phẳng và có khí hậu của vùng sa mạc, tức là khô nóng 6 tháng một năm.
Vì mình chưa từng sống ở đâu khác, việc ngày nào ngoài trời cũng nóng trên 37 trong suốt mấy tháng liền là việc khá bình thường.
Bọn mình gọi đấy là mùa hè.
Dù trời nóng, nhưng cũng không thể phủ nhận mặt trời chói chang cộng với đất đai màu mỡ cho ra kết quả là phù hợp cho việc trồng trọt, miễn là bạn thêm việc tưới nước vào phép toán.
Và mình đã làm vậy.
Vậy nên khoảng đất chữ nhật ngày trước đầy cỏ của nhà mình giờ đây sừng sững một bụi lục trúc cao gần 13m.
Mình trồng mấy cây cùng một họ (cam, nho, và chanh) cạnh vườn rau ăn-quanh-năm.
Mình còn trồng nho, đủ loại dây leo, cây cho hoa hằng năm và cả loại lúc nào cũng có hoa, và, trong một khoảnh nhỏ, mình trồng cây nhiệt đới.
Hiểu khu vườn của mình thì sẽ hiểu được mình.
Đấy là thánh đường của mình.
Khá là bi kịch khi mà chúng ta không nhớ được những thứ đầu tiên trong quãng thời gian đầu đời nhỉ.
Như thể những ký ức ấy có thể câu trả lời cho toàn bộ câu hỏi “Mình là ai?”.
Cơn ác mộng đầu tiên của mình là về cái gì ?
Bước đi đầu tiên có cảm giác thế nào ?
Bọn mình nghĩ gì trong quãng thời gian chuẩn bị thôi không quấn tã nữa ?
Mình có nhớ một chút về việc chập chững những bước đầu tiên, nhưng chuỗi ký ức hoàn chỉnh đầu tiên thì là thời đi nhà trẻ, dù cho mình có cố gắng bao nhiêu để quên đi chăng nữa.
Bố mẹ nói là nhà trẻ sẽ vui hết nấc.
Họ đã nhầm.
Trường chỉ cách nhà mình vài khu phố, cũng chính tại đây mình đã lần đầu tiên phạm tội cãi đài.
Người hướng dẫn, cô King, vừa hì hục cày một đường xuyên qua cuốn sách tranh phổ biến. Nó có đầy đủ các yếu tổ của văn học lớp mầm: lặp lại, gieo vần một theo kiểu kỳ quặc, và trắng trợn xuyên tạc mọi thứ.
Mình nhớ cô King đã hỏi cả lớp:
“Các cháu thấy quyển sách này thế nào?”
Câu trả lời phù hợp nhất, mà cô ấy chấp nhận được, là “mệt ạ,” bởi vì cô hướng dẫn vui vẻ quá mức này đã bắt bọn mình nằm xuống những tấm thảm cao su dinh dính trong vòng 25 phút sau khi kết thúc “giờ xem sách buổi trưa.”
Nửa lớp thường lăn ra ngủ ngay.
Mình nhớ rõ ràng một thằng bé tên Miles đã tè ra quần hai lần, và, ngoại trừ một đứa tên Garrison (mà mình chắc chắn rằng bị tăng động), tất cả những người khác đều có vẻ thích thú với trò nghỉ theo phương ngang.
Những đứa khác đã nghĩ gì nhỉ ?
Trong tuần đầu tiên đó, khi mà bọn cùng lớp say sưa ngủ, mình cảm thấy lo lắng phát điên về mức độ vệ sinh của cái sàn phủ vải sơn.
Mình vẫn còn nghe cô King, lưng thẳng và giọng the thé:
“Các cháu thấy quyển sách này thế nào?”
Sau đó cô ta ngáp vài cái rõ phô trương.
Mình nhớ lúc đó đã nhìn quanh mấy đứa bạn tù và nghĩ: Liệu có ai đó, bất kì ai, làm ơn hét lên cái từ mệt mỏi không ?
Mình đã không thốt ra một chữ nào trong suốt năm tiết học, và mình cũng không định làm thế.
Nhưng sau chuỗi ngày phải nghe nhiều lời xuyên tạc của người lớn hơn tất cả những gì mình đã từng nghe từ lúc ra đời tới giờ - từ việc những cô tiên dọn dẹp phòng học hàng đêm cho đến cách giải thích điên rồ về bộ dụng cụ dùng khi động đất - mình đã không chịu được nữa.
Thế nên khi cô giáo hỏi mình:
“Willow, cháu thấy quyển sách này thế nào?”
Mình buộc phải nói sự thật:
“Cuốn sách làm cháu thấy tồi tệ. Mặt trăng không thể nghe ai đó nói chúc ngủ ngon; nó cách Trái Đất những 255.000 dặm. Và thỏ thì không sống trong nhà. Thêm nữa, cháu thấy tranh minh họa chẳng có gì hấp dẫn.”
Mình cắn môi dưới và cảm thấy vị như kim loại của máu.
“Nhưng thực sự, nghe cô đọc sách làm cháu cảm thấy tồi tệ phần lớn bởi vì điều đó có nghĩa là bọn cháu sắp bị bắt nằm xuống sàn - và vi khuẩn ở đó có thể làm bọn cháu bị ốm. Có một loại tên là Salmonella và nó cực kỳ nguy hiểm. Đặc biệt là với trẻ em.”
Chiều hôm đó, mình học được từ lập dị vì đó là từ những đứa khác gọi mình.
Mẹ đến đón, bà tìm thấy mình đang khóc sau thùng rác ở sân chơi.
Mùa thu năm ấy, mình được đưa đến gặp một cố vấn giáo dục và bà ấy cho mình làm một bản đánh giá. Bà ấy gửi cho bố mẹ mình một bức thư.
Mình đã đọc nó.
Nó nói rằng mình “có nhiều khả năng trời phú.”
Thế thì mọi người thì “ít được trời phú” à ?
Hay là “trời phú vừa vừa”?
Hay chỉ “trời phú” thôi? Có khả năng tất cả những thứ được gắn nhãn mác đều mang lời nguyền. Trừ khi là chúng được dán trên các chai tẩy rửa.
Bởi vì mình nghĩ rằng nhìn nhận mọi người một cách giống nhau thì không được hay cho lắm.
Mỗi người đều có những phẩm chất riêng mà tổng hòa lại thì luôn luôn tạo ra một cá thể độc nhất.
Chúng ta đều là những tảng thịt không hoàn hảo về mặt di truyền.
Theo như người cố vấn, bà Grace V. Mirman, thách thức của những bậc cha mẹ có con “có nhiều khả năng trời phú” là phải tìm cách để cho con họ năng động và hứng khởi.
Nhưng mình nghĩ bà ấy đã nhầm.
Mình bị cuốn hút bởi gần như mọi thứ trên đời.
Mình có thể bị cuốn hút bởi đường cong của nước được tạo ra bởi vòi tưới cây. Mình có thể nhìn vào kính hiển vi trong một khoảng thời gian dài đáng kinh ngạc.
Thách thức của bố mẹ mình là tìm những người bạn có thể hòa hợp với một đứa như mình.
Tất cả những điều ấy dẫn tới việc mình được cho một khoảnh đất làm vườn.
Bố và mẹ nói rằng họ muốn làm cuộc sống của mình vui vẻ hơn. Nhưng có một thứ nhãn tiền ngay từ đầu:
Mùa thu năm ấy, mình được đưa đến gặp một cố vấn giáo dục và bà ấy cho mình làm một bản đánh giá. Bà ấy gửi cho bố mẹ mình một bức thư.
Mình đã đọc nó.
Nó nói rằng mình “có nhiều khả năng trời phú.”
Thế mọi người thì “ít được trời phú” à ?
Hay là “trời phú vừa vừa”?
Hay chỉ “trời phú” thôi? Có khả năng tất cả những thứ được gắn nhãn mác đều mang lời nguyền. Trừ khi chúng được dán trên các chai tẩy rửa.
Bởi vì mình nghĩ rằng nhìn nhận mọi người một cách giống nhau thì không được hay cho lắm.
Mỗi người đều có những phẩm chất riêng mà tổng hòa lại thì luôn luôn tạo ra một cá thể độc nhất.
Chúng ta đều là những tảng thịt không hoàn hảo về mặt di truyền.
Theo như người cố vấn, bà Grace V. Mirman, thách thức của những bậc cha mẹ có con “có nhiều khả năng trời phú” là phải tìm cách làm cho con họ thấy năng động và hứng khởi.
Nhưng mình nghĩ bà ấy đã nhầm.
Mình bị cuốn hút bởi gần như mọi thứ trên đời.
Willow Chance
Bọn mình ngồi cùng nhau ở một cái bàn ăn ngoài trời bằng kim loại màu xanh lơ bên ngoài cửa hàng Foster Freeze
Cả bốn đứa bọn mình.
Bọn mình ăn kem xốp, cái mà được trét vào một ống làm bằng socola lỏng ấy (cái này sau đó cứng lại tạo nên lớp vỏ giòn rụm).
Mình không nói với mọi người rằng bí quyết ở đây là sáp. Hay chính xác hơn: sáp dùng trong thực phẩm, ăn được.
Sau khi socola nguội, nó cầm tù bọn vanila ở bên trong.
Việc của bọn mình là giải thoát cho chúng nó.
Thường thì, mình chẳng ăn kem ốc quế. Và nếu có, thì mình bị ám ảnh bởi việc không để giọt kem nào chảy ra ngoài.
Nhưng hôm nay thì không.
Mình đang ở một nơi công cộng.
Mình chẳng buồn do thám mọi người.
Và cây kem của mình thì là một đống bầy nhầy to tướng.
Mình hiện tại là kiểu mà người khác sẽ muốn quan sát.
Tại sao à ?
Việc đầu tiên là mình đang nói tiếng Việt, vốn không phải là “native tonge” - tiếng mẹ đẻ của mình.
Mình rất thích cách diễn đạt này vì nói chung chung, mình nghĩ mọi người thường không đánh giá cao lưỡi so với những gì mà nó làm được.
Cảm ơn nhé, lưỡi ạ.
Mình ngồi đây, ánh mặt trời chiếu thẳng vào người, sử dụng tiếng Việt mỗi khi có thể, mà thực ra là khá thường xuyên.
Mình đang nói chuyện với người bạn mới tên Mai, nhưng thực ra cả người anh trai luôn-luôn-nóng-tính-và-đáng-sợ của mai, Quang-ha, cũng góp vài câu với mình bằng thứ ngôn ngữ mà giờ đây không còn là bí mật của riêng 2 anh em họ.
Dell Duke, người đưa bọn mình tới đây, thì yên lặng.
Chú ấy không nói được tiếng Việt.
Mình không thích cho người khác ra rìa tẹo nào (mình luôn là đứa bị ra rìa, nên mình hiểu cảm giác đó), nhưng mình thấy việc chú Duke đóng vai trò người quan sát cũng chẳng sao. Chú ấy là tư vấn viên ở trường và lắng nghe thì lại là một phần quan trọng của việc tư vấn.
Hoặc ít nhất là nên như thế.
Mai chiếm phần chủ đạo trong cả việc nói lẫn việc ăn (mình cho bạn ấy cây kem của mình sau khi đã no), và mình biết chắc chắn, trong lúc mặt trời đang chiếu rạng và cây kem ngon lành vẫn đang giữ được sự chú ý của bọn mình, rằng hôm nay sẽ là ngày mà mình không bao giờ quên.
Mười bảy phút sau khi xuống, bọn mình quay lại xe của Duke.
Mai muốn ghé Hagen Oaks, cái công viên ấy. Mấy con ngỗng to đùng sống ở đó cả năm. Bạn ấy nghĩ mình nên thấy chúng.
Vì là bạn ấy hơn mình 2 tuổi, bạn ấy đã mắc một lỗi thường thấy khi nghĩ rằng mọi đứa trẻ đều muốn dí mắt vào những thứ như kiểu bọn con vịt béo ú.
Đừng hiểu nhầm mình. Mình rất thích mấy con thủy cầm.
Nhưng trong trường hợp cái công viên Hagen Oaks này ấy mà, mình lại thích xem mấy cái cây bản địa được trồng theo quyết đinh của thành phố hơn là mấy con chim.
Theo như vẻ mặt của chú Dell (mình có thể thấy đôi mắt chú ấy qua gương chiếu hậu) thì mình nghĩ chú ấy chẳng hào hứng gì mấy với cả hai thứ, nhưng chú vẫn lái xe qua.
Quang-ha tựa sâu vào ghế và mình đoán rằng bạn ấy vui vì không phải đi bằng xe bus.
Đến Hagen Oaks, không ai ra khỏi xe cả, vì chú Dell nói là bọn mình cần phải về nhà.
Lúc bọn mình vừa đến quán Foster Freeze, mình đã gọi cho mẹ để giải thích rằng mình sẽ về muộn. Thấy mẹ không trả lời, mình để lại một tin nhắn.
Mình làm y hệt với bố.
Thật lạ là chẳng ai bắt máy cả.
Nếu họ không thể nghe điện thoại ngay, họ luôn nhanh chóng gọi lại cho mình.
Luôn luôn.
Khi Dell Duke rẽ vào khu nhà mình thì có một xe cảnh sát đã đang đỗ ngày trước cửa nhà.
Nhà hàng xóm ở phía Nam nhà mình đã chuyển đi và giờ thì chỗ ấy đang bị tịch biên. Một tấm biển cắm trên bãi cỏ xơ xác trước nhà ghi THUỘC SỞ HỮU NGÂN HÀNG.
Về phía Bắc là mấy người thuê nhà mà mình mới chỉ nhìn thấy một lần cách đây 7 tháng và 4 ngày, tức là cái ngày mà họ chuyển đến.
Mình nhìn chăm chú chiếc xe cảnh sát và nghĩ xem liệu có phải ai đó đã đột nhập vào căn nhà trống không.
Không phải Mẹ đã nói là thể nào cũng có chuyện với căn nhà trống trong khu sao ?
Nhưng điều đó không giải thích việc tại sao cảnh sát lại đang đứng trước cửa nhà mình.
Lúc tiến lại gần thì mình có thấy hai cảnh sát trên chiếc xe tuần tra. Và theo như cái cách mà họ ngả ngốn trong xe, có vẻ như họ đã ở đây được một lúc rồi.
Mình thấy cả người như căng lên.
Ở ghế trước, Quang-ha nói:
“Cảnh sát đang làm gì ở trước nhà cậu vậy nhỉ?”
Mai chuyển ánh nhìn từ anh bạn ấy sang mình. Mình chẳng hiểu được biểu cảm trên mặt bạn ấy có nghĩa là gì.
Có khi bạn ấy nghĩ là bố mình ăn trộm đồ, hoặc giả như mình có một đứa em họ hay đánh người. Cũng có thể là mình xuất thân từ một gia đình toàn những kẻ gây chuyện?
Bọn mình không hiểu rõ nhau lắm, thế nên mọi chuyện đều có thể.
Mình im lặng.
Mình về muộn. Có khi nào bố mẹ lo quá nên đã gọi cảnh sát ?
Nhưng mình để lại lời nhắn rồi mà.
Mình còn nói rằng mình vẫn ổn nữa.
Thật không tin được là họ lại làm thế này.
Dell Duke còn chưa dừng hẳn xe thì mình đã mở cửa, điều này thật ra là nguy hiểm.
Mình nhảy ra ngoài và đi về phía nhà, quên béng mất cả cái cặp màu đỏ có bánh xe cùng với bài ở trường của mình.
Mình vừa bước được hai bước vào sân thì cánh cửa chiếc xe tuần tra bật mở và một nữ cảnh sát xuất hiện.
Mái tóc màu cam của cô ấy được cột thành một cái đuôi ngựa lớn.
Cô ấy không chào mình. Cô chỉ hạ kính râm xuống và nói:
“Cháu biết Roberta và James Chance à?”
Mình cố nói to, nhưng những gì thoát ra không to hơn một tiếng thì thầm là mấy:
“Vâng.”
Mình muốn bổ sung là: “Nhưng bố là Jimmy Chance. Không ai gọi bố cháu là James cả.”
Nhưng mình không thể.
Cô cảnh sát vụng về chỉnh lại cái kính. Mặc dù mặc cảnh phục, trông cô ấy cũng không được oai cho lắm.
Cô ấy lẩm bẩm:
“Được rồi... Vậy cháu là... ?”
Mình nuốt nước bọt, nhưng mồm mình đột nhiên khô roong và như có cái gì đang chặn ở cổ.
“Cháu là con gái họ...”
Dell Duke đã ra khỏi xe và chú ấy đang đi sang đường, tay cầm cái cặp của mình. Mai đi ngay bên canh. Quang-ha ngồi nguyên trong xe.
Sĩ quan thứ hai, một người đàn ông trẻ hơn, đi vòng qua và đứng cạnh đồng nghiệp. Nhưng họ chẳng nói câu nào.
Chỉ toàn im lặng.
Im lặng khủng khiếp.
Sau đó hai người sĩ quan chuyển sự chú ý sang Dell. Cả hai trông đều căng thẳng. Cô cảnh sát cuối cùng cũng cất lời:
“Còn anh là...?”
Dell hắng giọng. Chú ấy đột nhiên trông như là đang đang vã mồ hôi ra từ khắp các lỗ chân lông trên cơ thể. Mãi chú mới nói được:
“Tôi là Dell D-D-Duke. Tôi là t-t-tư vấn viên cho trường của quận. Tôi tư vấn cho m-m-mấy đứa trẻ này. Tôi chỉ đ-đ-đưa chúng về nhà thôi.”
Mình có thể thấy cả hai người sĩ quan đều ngay lập tức thở phào nhẹ nhõm.
Cô cảnh sát bát đầu gật gù, thể hiện sự đồng tình và gân như là cả sự hào hứng:
“Một cố vấn? Vậy là cô bé đã biết?”
Mình lấy hết can đảm hỏi:
“Biết gì cơ ạ?”
Nhưng chẳng ai trong 2 người cảnh sát nhìn mình. Họ đang tập trung cả vào Dell.
“Chúng tôi nói chuyện với anh một lát được chứ?”
Mình có thể thấy bàn tay đầy mồ hôi của chú Dell bỏ ra khỏi cái tay nắm bằng nhựa đen của cặp sách, và chú ấy đi theo các sĩ quan xa khỏi phía mình, xa khỏi phía cái xe tuần tra, và ra ngoài vệ đường nóng bỏng.
Ở đó, họ chụm đầu với nhau, quay lưng lại, nên từ vị trí của mình, dưới ánh nắng của buổi chiều tà, họ trông như một con quái vật độc ác ba đầu vậỵ.
Và quả thật thế bới vì giọng họ, dù chỉ thì thầm, vẫn có thể hiểu được.
Mình nghe rõ ràng 6 chữ:
“Đã có một vụ tai nạn.”
Và sau lời thì thầm đó là thông tin rằng hai người mà mình yêu nhất thế giới đã ra đi mãi mãi.