Worldscale Freight Rate Schedules | Biểu cước vận tải Worldscale
Giới thiệu về’ Biểu cước vận tảiWorldscale’ (Worldscale Freight Rate Schedules).
Năm 1861 - Lô hàng đầu tiên vượt Đại Tây Dương trên con tàu 350 dwt Elizabeth Watts chở 1,329 thùng dầu từ Philadelphia tới London.
Năm 1878 –Tàu chở dầu đầu tiênZoraster 390 dwt được công ty Nobel Brothers Petroleum Producing Company ủy quyền chở dầu từ Baku tới Astrakhan trên vùng biển Caspian Sea.
Năm 1886 – Tàu Gluckauf đóng tại Newcastle cho công ty German American Petroleum Co. – nguyên mẫu của loại tàu tanker ngày nay – bị đắm tại Long Island vào ngày 24/3/1893.
Khái niệm về biểu cước vận tải đã có từ hơn 40 năm trước,bắt nguồn trong Thế chiến thứ Hai 1939-1954.
Trước chiến tranh, các mức cước vận tải cho các hợp đồng thuê tàu chuyến tanker được tính bằng đồng USD hoặc siling và pence trên mỗi tấn dài (1 GBP = 20 siling, 1 siling = 12 pence) cho mỗi chuyến đi đơn. Và trong các chuyến đi đòi hỏi kết hợp xếp trả hàng nhiều lần cần thiết phải thỏa thuận và tính toán các mức cước vận tải khác nhau cho các chuyến đi đó.
Trong chiến tranh, ban đầu chính quyền nước Anh và sau đó là chính quyền nước Mỹ đã trưng dụng các tàu thương mại và ngành vận tải biển cho hoạt động tiếp viện chiến tranh. Do đó các Chủ tàu đượcnhận tiền bồi thường dựa trên cơ sở một mức cước thuê tàu hàng ngày.
Tuy nhiên, theo thời gian, các con tàu trở nên dư thừa so với nhu cầu của thời chiến nên đã được trả lại cho các Chủ tàu dựa trên cơ sở một chuyến đi. Chính quyền có thể kiểm soát các tàu tanker phù hợp cho một chuyến đi trên cơ sở mục đích sử dụng riêng của các công ty dầu, đặc biệt trong thời kỳ từ khi kết thúc chiến tranh cho đến khi quyền kiểm soát vận tải biển được bãi bỏ. Trong thời gian này, các công ty dầu trả tiền cước cho tổ chức chính quyền có liên quan và mức cước vận tải mà không phụthuộc vào hành trình của chuyến đi, được xác định theo một tỷ lệ hoặc một biểu cước được ban hành bởi chính quyền.
Các mức cước phí được tính toánsao cho, sau khi tính đến các chi phí cảng biển, chi phí nhiên liệu và phí kênhđào, lợi nhuận ròng hàng ngày vẫn là như nhau đối với tất cả các chuyến đi.
Từ đó hình thành quy định về biểucước cho tàu tanker, chỉ rõ các Chủ tàu nên nhận được lợi nhuận ròng hàng ngày bất kể con tàu thực hiện chuyến đi như thế nào.
Biểu cước đầu tiên của cước tàu chuyến tanker được ban hành bởi Bộ Vận Tải nước Anh đưa ra các mức cước có hiệulực vào ngày 1/1/1946 và biểu cước này đã được biết đến dưới tên “MOT”(Ministry Of Transport). Tương tự, các mức cước đầu tiên được ban hành bởi Ủy ban Hàng hải Hoa Kỳ có hiệu lực kể từ ngày 1/2/1946, được biết đến dưới tên “USMC” (United States Maritime Commission).
Thực tế, chính quyền kiểm soát vậntải biển đến năm 1948 và thời điểm đó, thị trường tàu tanker đã thừa nhận những ưu điểm của biểu cước vận tải và do đó, trong thị trường tự do đã đúc kết ra các thỏa thuận dựa trên các điều khoản của MOT hay USMC cộng hoặc trừ đi một số lượng phần trăm được quyết định bởi vị trí cung/cầu trên thị trường.
Giữa những năm 1952-1962, một số lượng các biểu cước vận tải đã được ban hành như một loại hình dịch vụ cho thị trường tàu tanker bởi các tổ chức phi chính phủ; Scales Nos.1, 2, 3 và sau đó là Instascle ở London, ATRS ở New York.
Sau đó vào năm 1969 London và New York hợp tác ban hành một sản phẩm chung thay thế cho cả Intascale và ATRS gọi là”Biểu cước vận tải danh nghĩa Tanker toàn cầu” (Worldwide Tanker Nominal Freight Scale”, được biết đến rộng rãi dưới tên “Worldscale”.
Tên đầy đủ được trình bày ở trên là nhằm nhấn mạnh từ “danh nghĩa” (“nominal”) nhằm nhấn mạnh chỉ trong thời kỳ chính quyền kiểm soát các mức biểu cước được nhằm sử dụng như các mức cước thực tế. Do đó, biểu cước được tự do thỏa thuận điều chỉnh các mức phần trăm của mức cước cân bằng nhằm xác định mức cước thực tế được sử dụng trong việc thanh toán tiền cước vận tải.
Các mức cước được liệt kê trong xuất bản của Worldscale được suy ra từ công thức sau:
Cùng với sự xuất hiện của Worldscale, biểu cước này đã trở thành thông lệ để biểu thị các bậc thị trường của cước vận tải qua thuật ngữ về một số trực tiếp phần trăm của mức cước cân bằng thay vì cộng hay trừ một số phần trăm. Cách thức này được hiểu như “Điểm của mức cân bằng” (“Points of Scale”) do đó Worldscale 100 nghĩa là 100 điểm của 100 phần trăm của mức cước được công bố hoặc là, nói cách khác, chính là mức cước được công bố, đôi khi được đề cập như mức cước Worldscale sàn (Worldscale flat). Và Worldscale 250 nghĩa là 250 điểm của 250 phần trăm của mức cước được công bố và Worldscale 30 nghĩa là 30 điểm của 30 phần trăm của mức cước được công bố. Tính theo cách thức trước đó những mức này sẽ được tính tương ứng là Worldscale cộngvới 150 phần trăm và Worldscale trừ đi 70 phần trăm.
W100 = mức cước sàn như được tính hay được công bố.
W30 = 30% của mức cước được công bố.
W250 = 250% của mức cước được công bố.
Công thức tính Mức cước cân bằng Worldscale WS 100 hay Mức cước sàn:
Mức cước thị trường được xác định bởi thỏa thuận giữa chủ tàu và người thuê tàu.
Trong thời gian từ tháng 9/1969 cho tới cuối năm 1988, Worldscale được chính thức sửa đổi theo những thay đổi về giá nhiên liệu, cảng phí nhưng yếu tố tiền thuê hàng ngày vẫn được cố định $1,800.
Cuối cùng, “New Worldscale” được giới thiệu với hiệu lực kể từ ngày 1/1/1989 như một sự cập nhật. Tuy nhiên, do nảy sinh những khác biệt với thông lệ của thị trường, tính ngữ “new” được loại bỏ ngay sau đó và được hiểu chung là “Worldscale” nhằm chỉ mức cước cân bằng mới, trong khi mức cước cũ được gọi là “OldWorldscale”.
Trước khi giới thiệu về Old Worldscale, rất nhiều mức cân bằng khác nhau được ban hành ở London đều được dựa trên mức cũ MOT 32/6d (ba mươi hai si-ling và 6 pence) cho các chuyến hàng từ Curacao tới London. Do đó, yếu tố tiền thuê tàu hàng ngày $1,800 được dùng cho Old Worldscale được gián tiếp liên quan tới mức này cho đến nay, tại mức tỷ giá £1/$2.40 (như được áp dụng vào năm 1969), là gần tới mức cước thuê tàu tin cậy tiền thân Intascale.
Chỉ khi việc thay thế Old Worldscale được xem xét, hệ thống mới được áp dụng thực hiện, bằng một chuổi các kết quả thực tiễn thời gian dài, kích thước của con tàu tiêu chuẩn và yếu tố tiền thuê tàu hàng ngày phù hợp sẽ cung cấp cơ sở thực tiễn tốt nhất cho một mức cân bằng. Kết luận lại, từ các kết quả thực tiễn, một con tàu với sức chở 75,000 tấn và yếu tố tiền thuê tàu hàng ngày là $12,000 dường như cung cấp một cơ sở tiêu chuẩn như vậy cho một mức cân bằng được sử dụng trong những năm 1990.
- Tổng dung tích: 75,000 tấn
- Tốc độ khai thác: 14.5 hải lý
- Tiêu thụ nhiên liệu: 55 tấn/ngày trên biển; cộng thêm 100 tấn/chuyến đi, 5 tấn/ngày tại cảng.
- Thời gian tại cảng: 48 giờ tại mỗi cảng cho chuyến đi đơn (tổng 72 giờ tại hai cảng), cộng thêm 12 giờ cho mỗi cảng khác liên quan đến chuyến đi.
- Yếu tố tiền thuê tàu cố định 12,000 USD/ngày.
Các chi phí biến đổi khác:
- Giá nhiên liệu: Trung bình toàn cầu cho loại dầu nhiên liệu 380 centistocke trong suốt thời gian 12 tháng kết thúc vào tháng 9 trước ngày hiệu lực của Biểu cước.
Năm 2013, giá dầu nhiên liệu (380cts) là 686 USD/tấn;
0.1% Sulphur tại các cảng nhiên liệu là 986.06 USD/tấn;
1% Sulphur tại Baltic và Biển Bắc ECA là 727.05 USD/tấn;
và 1% Sulphur tại Bắc Mỹ ECA là 779.32 USD/tấn.
(ECA - Emission Control Area)
Các mức giá trên được tính trong thời gian từ ngày 1/10/2012 đến hết ngày 30/9/2012 bởi công ty LQM Petroleum Services, Inc.
- Cảng phí: Thông tin phù hợp tính đến hết tháng 9 dùng tỉ giá USD trung bình trong thời gian 12 tháng kết thúc vào ngày 30 tháng 9 trước ngày hiệu lực của Biểu cước.
- Phí kênh đào: 24 giờ cho mỗi lần qua kênh đào Panama và 30 giờ cho mỗi lần qua kênh đào Suez.
Ấn phẩm xuất bản hàng năm của Worldscale bao gồm danh sách hơn 60,000 mức cước WS100 trên cơ sở US$/MT
Chỉ số Worldscale là kết quả hợptác của hai tổ chức phi chính phủ là công ty Worldscale Association (London) Limited và Worldscale Association (NYC) INC. (NYC – New York City). Mỗi công tyđều dưới quyền kiểm soát của một Ủy ban Quản lý mà các thành viên của Ủy ban là các nhà môi giới cao cấp từ các hãng môi giới hàng đầu ở London và Hoa Kỳ.
New York đảm nhiệm vùng Bắc,Trung, và Nam Mỹ, các đảo vùng Caribbean, Bermuda, Greenland và Hawaii.
Thành viên của Worldscale (NYC)Inc:
• McQuilling Brokerage Partners Inc
• Mallory Jones Flynch & Associates Inc
• Charles R. Weber Company
London chịu trách nhiệm cho phần còn lại trên thế giới.
Thành viên của Worldscale Association (London) Limited:
• Simpson, Spence & Young Limited
• H. Clarkson & Company Limited
• E.A. Gibson Shipbrokers Limited
• Braemar Seascope Limited
Worldscale hoạt động dựa trên cơ sở đóng góp mức phí hàng năm bởi các thành viên sử dụng Biểu cước vận tải và tất cả các thông báo điều chỉnh và quyền yêu cầu các mức cước cho bất kỳ chuyến đi nào không được đưa ra trong Biểu cước.
- The Baltic Exchange Tanker Derivatives Forum.