Mình xin phép làm một đều gì đó, có sự cho phép hoặc nhờ vả của người khác.
Sử dụng させていただく khiêm tốn của させてもらう
させていただく là thể kính ngữ khiêm tốn mang ngụ ý "mình xin nhận làm gì đó cho người khác", tuy nhiên, nếu chưa hỏi ý trước đối tượng mà đã làm, sẽ bị hiểu là tự tiện, thất lễ, bất kính...v...v...
Trường hợp 2 いたす
Mình làm việc một điều gì đó, nhưng không có sự cho phép, hoặc nhờ vả của người khác.
Sử dụng いたす khiêm tốn của する
いたす mang ngụ ý "mình xin lỗi vì đã làm điều đó" mà chưa hỏi ý đối tượng, mong nhận được thông cảm từ đối tượng.
Vì lý do nào đó, させていただく được nhiều người sử dụng như いたす. Dưới đây là một vài mẫu nhỏ thể hiện sắc thái của hai thể khiêm tốn sẽ ảnh hưởng đến phản ứng của người nghe như thế nào:
Một số ví dụ cơ bản về いたす
Dùngする ở thể khiêm tốn いたす, sẽ có sắc thái mình xin lỗi việc mình đã làm ảnh hưởng đến họ.
「会社を辞めさせていただきます。」×
Sắc thái: Bạn A: "Tôi xin phép thôi việc" Cty: "Ơ... công ty đã có đồng ý cho thôi việc đâu, đừng có tự ý vậy chứ"
「会社を退職いたします。」〇
Sắc thái: Bạn A: "Tôi xin phép thôi việc, tôi xin lỗi." Cty: "hazzii... hết cách, hôm nay là ngày cuối gặp anh rồi"
「少額ですが送金させていただきました」×
Sắc thái: Bạn A: "Ở đây không đủ tiền, tôi đã gửi qua ngân hàng cho anh rồi" Khách: "Sao anh không báo cho tôi biết? tôi có đồng ý đâu."
「少額ですが送金いたしました」〇
Sắc thái: Bạn A: "Ở đây không đủ tiền, tôi đã gửi qua ngân hàng cho anh rồi, hết sức xin lỗi." Khách: "Hazziii... đành vậy"
「締切は10月末とさせていただきます」×
Sắc thái: Bạn A : "Deadline là cuối tháng 10 tôi nhận file." Bạn B "Anh biết tôi cũng đang làm việc khác cho anh mà nhỉ"
「締切は10月末です」〇
Sắc thái: Bạn A : "Cuối tháng 10 là deadline." Bạn B "Vâng."
Một số ví dụ cơ bản về させていただく dùng cho trường hợp trên
Tâm thế khiêm tốn, nếu bạn muốn dùng させていただく, tốt nhất là nên ở dạng câu hỏi (でしょうか?) ở để tỏ thái độ mình hỏi ý đối tượng có cho phép hay không.
「会社を辞めさせていただけないでしょうか?」
Sắc thái: Bạn A: "Không biết là công ty có cho phép tôi thôi việc không ạ?" Cty: "Chúng tôi sẽ xem xét việc này."
「少額ですが送金させていただけないでしょうか?」
Sắc thái: Bạn A: "Không có đủ tiền ở đây rồi, không biết tôi gửi qua nhân hàng được không ạ?" Khách: "chà, thế thì sẽ phiền cho tôi đây."
「締切は10月末までに原稿をお送りいただけますか?」
Sắc thái: Bạn A : "Deadline là cuối tháng 10, có thể gửi file cho tôi được không ạ?" Bạn B : "Vâng, tôi sẽ có cố gắng giao vào ngày đó."
Bài viết được tham khảo bởi https://tabi-labo.com/216833/keigo2
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
Trong việc học ngoại ngữ, chắc các bạn cũng đã biết bảng thống kê về mức độ khó học của tiếng Nhật chỉ nằm ở mức trung bình. Nhưng nhắc đến tiếng Nhật thì đa phần người học nào – thậm chí cả người Nhật – cũng phải toát mồ hôi vì kanji, bảng chữ với số lượng hơn 2000, một con số khá nhiều để học thuộc lòng.
Lý do khiến bạn sợ kanji
Nguyên nhân chính mà mình nghĩ đến đó là hiệu ứng đám đông, bạn nghe quá nhiều về độ khó cho cả người bản địa, bạn sẽ mang cảm giác chắc nó khó thật, và bạn sẽ mặc định rằng một người nắm được kanji hẳn là rất giỏi. Con người sợ hãi những thứ họ không kiểm soát được, cộng với hiệu ứng đám đông, nó càng củng cố niềm tin rằng: bạn không thể làm được. Thật sự bạn hoàn toàn có thể học tốt kanji nếu bạn học với tâm thế đặt ở vị trí “tìm hiểu” thay vì “chinh phục”. Ý mình là, khi học kanji – hay bất kỳ bộ môn nào – nhiều người có xu hướng sợ sai và dễ nản nếu không thể ghi nhớ hoặc hiểu ngay một đề tài mới. Đừng quá tiêu cực như vậy, bạn đang học một thứ hoàn toàn mới, và việc mắc lỗi là điều dĩ nhiên. Việc không nhớ mặt chữ, hay hiểu sai chữ không quan trọng. Quan trọng là, bằng việc mỗi ngày bạn sai đi sai lại đó, sẽ đến lúc bạn tiếp xúc đủ nhiều để chuyển sai thành đúng, và cả quá trình sai lên sai xuống sẽ giúp bạn nắm vững kanji đó.
Lợi thế của người Việt học kanji
Các nước phương Tây khi học về văn hoá phương Đông thường gặp khó khăn trong việc “mã hoá” những khái niệm mà nước họ không có. Họ sử dụng rất nhiều những từ chuyên môn (hàn lâm?) để giải thích về khái niệm một chữ kanji, ý nghĩa khó hiểu cũng có, dễ hiểu cũng có và tương đối cũng có. Người học phương Tây chỉ nắm bắt được những khái niệm chung chung, vì vậy, hiểu từ vựng kanji với họ là hết sức khó khăn. So với phương Tây, vốn từ Hán Việt tồn tại qua nhiều thế kỷ của chúng ta là lợi thế rất lớn để học tốt Kanji. Bên cạnh đó, do cùng sống trong nền văn hoá phương Đông nên giữa hai ngôn ngữ có nhiều khái niệm tương đồng, dễ nắm bắt hơn. Và chưa kể, tiếng Việt rất giống tiếng Nhật về sắc thái câu.
Vận dụng Hán Việt vào việc học kanji
Ta lấy ví dụ với hai chữ 土 (thổ) và 地 (địa)
土 trong khái niệm tiếng việt là Đất, khu vực: Lãnh thổ, thổ địa, thổ sơn... (thổ huyết là một chữ kanji khác nhé :D)
地 thuộc bộ Thổ, trong khái niệm tiếng việt là Đất nền, vị trí: Địa phương, bản địa, địa vị, lãnh địa, địa lý, tâm địa (chỉ vị trí trong tâm hồn), địa cầu… Ta không thể gọi Địa Cầu là Thổ Cầu được, vì Thổ chỉ tính chất của đất, đá, sỏi. Địa thì chỉ phần đất nền, vị trí.
Có thể bạn đều nghe qua hết các từ này trong đời sống hằng ngày và bạn hiểu rõ ý nghĩa của nó, bạn hiểu được khái niệm của một chữ. Vấn đề cần giải quyết là bạn thuộc mặt chữ mà thôi.
Cùng với hai chữ kanji trên, ta thử áp dụng với tiếng Anh:
土 - soil: Province, Area, Mountain soil...
地 - ground (ai bắn battlegrounds thì gặp hoài nè): Locale, Place, Location, Region, Geography, Cruel, The earth...
Vì tiếng anh không có khái niệm của một chữ, nên buộc họ phải sử dụng vốn từ vựng khá lớn để giải thích các cặp kanji đi chung với nhau. Họ không chỉ học mặt chữ, mà còn phải học luôn cặp chữ kanji đi kèm.
Lời kết:
Dù rằng người phương Tây có rào cản lớn trong việc học tiếng Nhật, nhưng thái độ không ngại hỏi của họ lại là thứ chúng ta cần học tập. Không quá ngạc nhiên khi google, bạn sẽ tìm được giải đáp của tất cả các câu hỏi về kanji dù dễ hay khó. Như mình đã nói ở đầu bài, họ thích tìm hiểu hơn là chinh phục. Đối với những người có tinh thần như vậy, sẽ không bao giờ cho rằng kanji vượt quá khả năng. Ngoài ra, bản thân người Nhật cũng luôn hỏi về cách dùng kanji ở mọi cấp độ, bạn hoàn toàn có đủ thông tin để tự nghiên cứu. Nếu biết tận dụng những gì mình đang có trong thời đại thông tin bùng nổ, kết hợp với tự trau dồi kiến thức và đúc kết phương pháp học thích hợp, thì kanji, dù không dễ dàng chinh phục, cũng không còn khó như bạn tưởng tượng.
“Mọi việc sẽ khó khăn khi làm sai phương pháp, đó là dấu hiệu cho thấy bạn cần phải thay đổi phương pháp khác cho đến khi bạn “vui” được cùng với nó, lúc đó bạn mới sinh ra được đam mê.”︎
Như bài viết về に là trợ từ xác định đối tượng, thời gian, tình trạng. Khi nó đi kèm thành のに nó sẽ trở thành trợ từ mang sự thất vọng của người nói về 1 hành động nào đó (thường là chia thể quá khứ た). Ví dụ :
彼は約束の日があったのに、ドタキャンしました〜
=> anh ta có ngày hẹn rồi vậy mà lại xù độ ngay phút chót.
Tình trạng đã có ngày hẹn là chủ thế chính trong câu, nên の có chức năng xác định đây là ý chính, chứ không phải là ドタキャンしました〜 (xù độ phút chót)
一生懸命勉強したのに、なかなか合格できない~
=> Tôi đã cố gắng học rồi mà vẫn không thể đậu được
Trạng thái đã học rất nhiều là chủ thế chính trong câu, nên の sẽ xác định 一生懸命勉強した là ý chính của người nói, chứ không có ý về việc không thể đậu 合格できない
Tuy nhiên, nó không chỉ mang sắc thái thất vọng, mà vẫn giữ đúng chức năng に là chỉ trạng thái hành động. の lúc này dùng để nhấn mạnh và nhắm tới chuỗi hành động trước の.
私は何かが嫌いなのに気になる
=> Tôi thấy không ổn khi không thích cái gì đó.
Tính từ 嫌い đuôi な nên khi đi với danh từ là の phải là なのに. Trợ từ に chỉ trạng thái cho toàn bộ phía trước の là 何かが嫌い đây là ý chính của câu. Chứ không phải 気になる.
この人が怪しいのに構わない
=> Tôi không quan tâm lắm, dù con người này khá kỳ cục.
Tương tự ví dụ này cũng vậy, trước の là ý chính この人が怪しい, chứ không phải là chuyện tôi quan tâm hay không quan tâm 構わない
Về cơ bản, のに mang chức năng xác định ý chính chỉ trạng thái sự vật sự việc trước の. Nếu chỉ có trợ từ に thì nó đơn thuần chỉ trạng thái, làm rõ hơn vị trí, thời gian… cho câu. (đọc thêm về に và には)
Kết cấu cơ bản : A は C に B です => A は [C のに] B です
Tương tự với のを cũng như mang chức năng tập trung ý chính trước の, tất cả đều là 1 hành động cụ thể, nếu chỉ có を thì nó chỉ trợ từ cơ bản. Ví dụ :
エロ本を読んでいる
=> Đang đọc sách người lớn
エロ本を読んでいるのをやめてください (bối cảnh là đang bị bắt gặp)
=> Xin hãy thôi ngay chuyện đọc sách người lớn đi.
日本語の勉強する
=> Học tiếng Nhật.
私は日本語の勉強するのをスケジュールしています。
=> Tôi đang lên lịch cho chuyện học tiếng Nhật.
Trường hợp の đi kèm với で
Chúng ta đều được học qua ので là chỉ lý do vì làm cái gì đó, tuy nhiên, cũng có 1 từ khác cũng chỉ lý do tương tự là から
勉強したので、遊ばない
勉強してから、遊ばない
Cả hai câu trên đều mang ý “Vì sau khi học xong, không đi chơi”, thông thường, から và ので dùng rất ngẫu hứng theo thói quen, nên sắc thái cũng từ đó truyền đạt lúc chính xác chủ đích, lúc không. Vậy 2 câu trên khác ở điểm nào?
勉強したので、遊ばなかった (≧∇≦)/
=> Vì tôi đã học xong, nên đã không đi chơi.
(Ngữ cảnh người nói có nguyên tắc sau khi học xong thì tuyệt nhiên không đi chơi)
ので cũng như のに và のを, mang chức năng nhấn mạnh ý chính trước trợ từ の, ở đây là 勉強する, có nghĩa là người nói chú trọng việc học.
Nối tiếp câu trên bạn sẽ hỏi : “Học cái gì mà đến mức không đi chơi vậy?”
勉強してから、遊ばなかったよ TT__TT
=>Tôi đã không đi chơi, sau khi học xong.
(Bối cảnh có thể là trời đã tối khi sau học xong, nên không đi chơi được nữa)
Đây là mang sắc thái người nói chủ ý nói đến việc không đi chơi, vì lý do học bài. Bạn có thể thêm よ vào, như nhấn mạnh tiếc nuối. Người nói chú trọng việc chơi.
Nối tiếp câu trên bạn sẽ hỏi : “Có thật là sẽ không đi chơi chứ?”
勉強したので、遊ばなかったよ (TT ∇ TT)/ (X)
=>Vì sau khi học xong, nên không đi chơi. (X)
Câu này được xem là khá kỳ cục nếu bạn thể hiện giọng nói mang sắc thái thất vọng, vì người nói chú trọng việc học, nhưng lại nhấn mạnh sự tiếc vì đã không đi chơi. Sắc thái này hơi bị hổn loạn về ý muốn, người nghe sẽ không hiểu ý bạn đang muốn nhấn mạnh việc nào, chơi? hay học?
So sánh giữ ~することは/が và ~するのは/が
すること và するの điều ám chỉ đến hành động một việc. Tuy nhiên, するの mang chức năng “nhấn mạnh” hành động mang tính cụ thể, còn すること chỉ là nêu lên sự việc, sự vật mang tính trừu tượng rồi đưa ra nhận xét về nó.
勉強するのは大切です。
=> đây là chú trọng một hành động cụ thể của việc học là một hành động quan trọng. Chủ ý chính trong câu này là hành động học.
勉強することは大切です。
=> mang tính trừu tượng về việc học, như là học hỏi, tự học, việc học mọi thứ trên đời, câu chú trọng ở đây là sự quan trọng.
Tổng kết :
Phía sau là trợ từ で、を、に、は/が trợ từ の mang chức năng nhấn mạnh đến chuỗi hành động phía trước. Được dùng để thể hiện ý chính trong câu.
すること sẽ được dùng để nói đến ý chính vế sau. するの là dùng để nói ý chính ở vế trước.
Trợ từ の là một trong các trợ từ dễ hiểu nhất trong tiếng Nhật, theo như những gì được học trong sách, nó chỉ sự sở hữu của danh từ chính. Lên trình độ trung cấp nó có chức năng thay cho rất nhiều động tự mang tính cụ thể thành ý chính, nên nó cũng là một trợ từ dễ gây hiểu sai ý của người nói.
「本を読むことが好きです」
=> Tôi thích việc đọc sách
Như bài viết trước đây, こと chỉ bạn thích việc #đọcsách. こと nó khá giống như việc bạn sử dụng #tag. Tập hợp nhiều sự việc khác nhau, thì nó gọi là Tag Cloud.
Trong hội thoại, tiếp lời câu này, bạn sẽ nói : “Vậy bạn còn thích gì khác không?”
「本を読むのが好きです」
=> Tôi thích đọc sách
Ví dụ này mang ý hành động bạn đọc sách, cụ thể là bạn thích làm hành động đọc sách.
Trong hội thoại, tiếp lời câu này, bạn sẽ nói : “Tại sao bạn lại thích đọc?”
Tại sao lại có sắc thái như vậy, trước hết ta phải tìm hiểu lại cơ bản の của N4
Trường hợp phía sau の có danh từ :
私の本 => Sách của tôi
日本語の漢字 => Kanji của tiếng Nhật
京都の美しさ => Nét đẹp của Kyoto (Tính từ đuôi い, bỏ い thay さ biến thành danh từ)
毎日の仕事 => Công việc của mỗi ngày
Danh từ sở hữu là 私、日本語、京都、毎日. Danh từ chủ thể chính luôn nằm ở phía sau の là 本、漢字、美しさ、仕事, khi có は/が vào thì chúng ta quay về dạng cơ bản A は/が B です。
本は古いです。=> Sách thì cũ
私の本は古いです。=> Sách của tôi thì cũ.
漢字は難しいです。=> Kanji thì khó
日本語の漢字は難しいです。=> Kanji của tiếng Nhật thì khó.
お寺はとてもきれいです。=> Chùa thì rất đẹp
京都のお寺はとてもきれいです。=> Chùa của Kyoto thì rất đẹp
仕事はとても忙しいです。=> Công việc thì rất bận.
医者さんの仕事はとても忙しいです。=> Công việc của bác sĩ thì rất bận.
Khi có 2 danh từ trước は bạn cần xác định danh từ sau の, đó là chủ thể chính trong câu mà người ta muốn nói đến. Khi đó các từ 忙しい、難しい、古い、きれい không còn là ý chính trong câu nữa.
Ta có kết cấu cơ bản : C は/が B です = [ A の C ] は/が B です
Trường hợp の thay thế が :
Trong một câu mà có tới 2 chủ thể cụ thể が thì câu văn sẽ không được tự nhiên cho lắm, mặc dù nó không sai về ngữ pháp, tuy nhiên bạn vẫn có thể khiến câu văn đó trở nên tinh tế hơn bằng cách thay một が đầu tiên thành の. (Đọc thêm về は và が)
私は妹が頑張っている気分が感じられた。
私は妹の頑張っている気分が感じられた。
=> Tôi cảm nhận được sự cố gắng của em tôi.
Ví dụ trên có 1 danh từ và 1 động từ trong câu, danh động từ chính là 頑張っている気分. Vậy để nhắm đến danh động từ này, bạn phải thay thế 妹が頑張っている気分 thành 妹の頑張っている気分
私は彼女が見た映画が大好きです。
私は彼女の見た映画が大好きです。
=> Phim mà cô ta xem, tôi rất thích.
Danh động tự chính 見た映画 là chủ thể chính, nên trước nó phải の. Vậy để nhắm đến danh động từ này, bạn phải thay thế 彼女が見た映画 thành 彼女の見た映画
Ta có kết cấu cơ bản : A は/が [C が D] が B です = A は/が [C の D] が B です
Tổng kết :
の mang chức năng sở hữu của danh từ phía trước, ví dụ như 医者の仕事、学生の宿題、絵の具、すき家のラメン
Trong một câu, thỉnh thoảng bạn sẽ bắt gặp には thay vì は, ví dụ như 私には、 本には、京都には、…v…v… Vậy tại sao không dùng は mà lại là には?
Trong những trường hợp này, hãy thử hình dung khi bạn thấy người khác, hay chuyện gì đó có thứ gì, bạn muốn tỏ thái độ bất ngờ, hào hứng, hay ganh tị, bạn sẽ thốt lên “Ah!!! Tôi cũng có…/ Nó cũng có...” Nếu chỉ dùng は lúc này, cảm xúc chẳng khác nào một cái máy ^^.
Từ đó, chúng ta có には thay cho は để thể hiện sắc thái nói trên. には trong một câu/một mệnh đề là sự kết hợp chức năng của hai trợ từ に và は để chỉ tình trạng tương tự được nói đến trong câu/mệnh đề đó với một câu/mệnh đề khác.
京都はたくさんお寺があります
> Kyoto thì có nhiều chùa chiền
=> Chủ ngữ là Kyoto.
Chức năng trợ từ は thường dùng cho chủ đề chung chung, nó tương đương với chữ “thì” trong tiếng Nhật.
中国は(A)たくさんお寺があります(B)。日本も(D) 京都に(C)たくさんお寺が(B)あります。
> Trung quốc thì có rất nhiều chùa chiền, Nhật Bản thì ở Kyoto cũng có nhiều chùa chiền.
=> Chủ ngữ là Trung Quốc, Nhật Bản, nhưng mục đích là nói về chùa chiền ở Kyoto. Lưu ý trợ từ も dùng thay thế は để câu văn để tránh lặp từ với câu trước.
Chức năng trợ từ に dùng để bổ sung thêm thông tin, làm rõ câu văn, thường dùng để chỉ mục đích, thời gian, tình trạng, đối tượng, vị trí.
中国はたくさんお寺があります。日本は京都には(C)たくさんのお寺があります(B)
> Trung Quốc thì có nhiều chùa chiền. Ở Kyoto (Nhật Bản) thì cũng có nhiều chùa chiền.
=> Ý chính là nói về vị trí ở Kyoto, không đề cập đến Trung Quốc và Nhật Bản nữa, vì người nghe tự hiểu chùa là có ở Trung Quốc và Nhật Bản rồi. Lưu ý trong 1 câu không dùng 2 は
Kết hợp với 2 chức năng trợ từ に và は, ta có thể hiểu là, khi câu/mệnh đề A, D có cùng chủ đề cụ thể, nhưng người nói chỉ muốn đề cập đến tình trạng chung là C thì sử dụng には. Nên để hiểu, には cần được đặt trong văn cảnh cụ thể, thường là khi nói chuyện chung về một chủ đề nào đó. Nó tương đương chữ “cũng có” trong tiếng Việt.
Sau đây là ví dụ làm rõ sắc thái câu của 3 trợ từ は、に、には ở dạng hành động tiếp diễn.
この本はたくさん情報が載っています (Gọi tạm là Sách A)
> Sách A này thì có nhiều thông tin.
Vì là は nên chỉ nói về sách A, các sách khác như thế nào đó, gọi tạm là Sách B, thì không đề cập đến.
私はこの本にたくさん情報が載っています
> Tôi đã đăng rất nhiều thông tin vào trong sách A này.
Vì là に nên đây là câu ám chỉ mục đích hành động đăng bài (載る) lên sách A. Chủ ngữ là Tôi.
この本にはたくさん情報が載っています
> Bên trong quyển sách A thì cũng có rất nhiều thông tin.
Sách B có nhiều thông tin, には chỉ ra quyển sách A cũng có nhiều thông tin. Người nói chỉ muốn nói đến bên trong quyển sách A, và người nghe sẽ phải tự hiểu đến sách B và thông tin thuộc câu khác có cùng nội dung với người nói.
Như vậy, nếu như trợ từ に chỉ trạng thái cho chủ đề chính, thì には thể hiện một trạng thái giống với trạng thái của một câu/mệnh đề khác. Nói cách khác, には có thể dịch ra là “cũng có”. Thế nên, sắc thái câu của nó thường kết thúc bằng “ある” chỉ vật hoặc “いる” chỉ người và hành động tiếp diễn “ている”.
Lưu ý không có にが. Có にも chỉ sự nhấn mạnh hơn, thường dùng trong trường hợp khẩn cấp, nó tương đương với “Ngay cả trong....”
Tổng kết :
- には thường chỉ trạng thái tương đồng của chủ ngữ chính với một chủ ngữ khác. Do đó lúc nào cũng phải có ある、いる、ている. Nó có cấu trúc “CにはBがいる/ある/ている” => Ở C cũng có B.
- には cũng có thể thành にある nếu phía trước câu có が “BがCにある/いる/ている” => Cái B này ở C cũng có.
- には có thể dịch là “cũng có,” chỉ tình trạng tồn tại. にも nhấn mạnh chỉ tình trạng khẩn cấp, bất ổn, không tốt.
- Trong hội thoại, には được dùng rất thường xuyên, để nói đến tình trạng ở bản thân mình “cũng như thế”, “cũng có”, “cũng vậy”, にも để nhấn mạnh hơn, có nghĩa “Ngay cả trong...” “Thậm chí trong...”
「ああ、私にはそう思っていますよ~」
=> ah, Tôi cũng nghĩ vậy đó. (bạn nghĩ vậy, tôi cũng nghĩ vậy)
「え、私には妹がいますよ」
=> à, Tôi cũng có đứa em gái đó. (bạn có em gái, tôi cũng có)
「そう、私にはこの経験がありますよ」
=> Tôi cũng có kinh nghiệm này rồi. (bạn có kinh nghiệm, tôi cũng có)
「誰にも言えない秘密が私にある」
=> Ngay cả tôi cũng là một trong số những người không nói bí mật cho bất kỳ ai nghe.
「私には君が好きだ!」
「私にも君が好きだ!」
=> Tôi cũng là một trong số những người thích em.
=> Ngay cả tôi cũng là người thích em.
A:「彼女によく叱れるんだ」
=> Tôi hay bị cô ta mắng lắm.
B:「え、私にも」
=> ừ, ngay cả tôi cũng bị.
Bài viết có sử dụng ví dụ từ blog Tips on Japanese
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
「に」là một trợ từ rất quan trọng trong việc xác định mục đích của câu. Nếu không có に chỉ về đối tượng, thời gian, tình trạng đang xảy ra, thông tin truyền tải sẽ bị thiếu, câu văn sẽ càng không rõ ràng.
私は行きます。=> Tôi đi (đi làm gì? đi đâu? đi lúc nào? với ai?)
私は買い物に行きます。=> Tôi đi mua đồ [Mục đích]
私は文房具屋さんに行ってきます。=> Tôi đi đến tiệm văn phòng phẩm [Nơi chốn]
私は9時に行きます。=> Tôi đi lúc 9 giờ [Thời điểm]
私は妹と一緒に行きます。=> Tôi đi với em gái [Tình trạng (của hành động “đi”)]
私は妹にプレゼントをもらった。=> Tôi nhận được quà từ em gái [Đối tượng]
Như bạn thấy ví dụ trên, に mang tính chất làm rõ hành động “đi” của bạn. に thường nằm giữa câu nên với các đoạn văn dài và phức tạp, dễ khiến người đọc mất phương hướng về hành động.
Ví dụ như tựa tác phẩm mới nhất của nhà văn Ichikawa Takuji như sau:
「ぼくたちは、誰かに止めてもらうのを待っていたのかもしれない。」
Chúng ta phải chăng đã mong chờ một ai đó có thể khiến ta lỡ nhịp.
止めてもらう nghĩa là “làm một hành động bị ngưng lại” => 遠慮してもらう do vậy là ngại ngần, hay như mình dịch ở đây là lỡ nhịp để làm rõ hàm ý câu văn chỉ về “người ấy”.
誰かに nghĩa là “một ai đó” tức là chỉ đối tượng.
Nếu bỏ 誰かに:
ぼくたちは、止めてもらうのを待っていたのかもしれない。
Chúng ta phải chăng đã mong chờ khiến ta lỡ nhịp. (Ai, cái gì khiến ta lỡ nhịp?)
Tổng kết
に mang chức năng bổ sung thêm để làm rõ cho câu văn, không thuộc liên kết với chủ thể は. (Xem thêm về は・が)
に tương đương với các từ ở tiếng Việt:
- Mục đích: để
- Nơi Chốn: ở
- Thời điểm: lúc
- Tình trạng: trong
- Đối tượng: cô ấy, anh ấy, họ, ...v...v...
想(そう): trong Hán Việt nghĩa là Tưởng, chúng ta sử dụng từ này trong những câu như “Tôi tưởng là…” “tôi tưởng vậy…”
Cấu trúc của 想: gồm các bộ thủ : Cây 木, Mắt 目, và Tâm 心 => Khi bạn nhìn vào cây, tâm sẽ cho bạn biết một điều gì đó – một Tưởng, hình ảnh này giống như Newton bị quả táo rơi xuống đầu ^^
Hán việt chúng ta có rất nhiều từ vựng như “Tưởng tượng” “Tư Tưởng” “Lý Tưởng”…v…v… Nhưng trước khi Tưởng, chúng ta phải có khởi điểm kích hoạt trong não bộ. Nên cấu trúc trình tự trong việc sáng tạo sẽ là :
・(思想:しそう) Tư Tưởng hay còn gọi là Ý thức hệ: nó cho cái nhìn tổng thể về một sự việc, sự vật.
・(概念:がいねん) Khái Niệm: Sau khi có cái nhìn, bạn sẽ định nghĩa sự việc, sự vật theo tư duy của bạn. Đưa ra logic của riêng mình, nền tảng của riêng mình, “ngôn ngữ” của riêng mình. Bản chất Khái Niệm là thứ không thể diễn đạt được, và người khác cũng không thể hiểu được. Vì vậy Định Nghĩa (定義) chỉ có tính chất “thay thế” đại diện cho Khái Niệm.
・(構想:こうそう) Cấu Tưởng hay còn gọi là Quan Điểm: Khi bạn có được khái niệm, bạn sẽ đưa ra các luận điểm theo bạn là đúng/sai.
・(発想:はっそう) Phát Tưởng hay ta quen gọi là Ý Tưởng, khi bạn có quan điểm, bạn sẽ triển khai quan điểm đó ra thành ý tưởng, định hình nó một cách rõ ràng. Người khác từ đó có thể hiểu được.
・(理想:りそう) Lý Tưởng : đúc kết của những quá trình trên, nó là cái đích mà bạn mong muốn hướng đến.
Kết luận : Quy trình sáng tạo là : Phải có ý thức hay tư tưởng về một vật, việc, từ đó đưa ra khái niệm chung, sau đó nêu quan điểm về nó, kế tiếp là đi đến ý tưởng, cuối cùng đi đến lý tưởng của mình muốn mang lại cho người xem.
Tuy nhiên, cá nhân mình thấy nhiều cá nhân/công ty sáng tạo hiện nay có xu hướng khởi đầu từ cái thứ 3 – quan điểm (Cấu tưởng). Sau đó phát triển thành ý tưởng (発想) = IDEA, nhưng lại bị nhầm lẫn nó thành khái niệm (概念) = Concept.
Chính vì vậy, Idea (発想) và Concept (概念) trở nên mơ hồ đối với nhiều người.
Hiểu một cách đơn giản, concept hay khái niệm là tư duy khái quát của bạn về một sự vật, sự việc. Còn idea hay ý tưởng là khi bạn, thông qua quan điểm của cá nhân mình, triển khai và định hình rõ ràng hơn khái niệm đó, giúp những người xung quanh hiểu được.
Trên đây là quan điểm của mình, và bài viết này là ý tưởng để giúp các bạn hiểu rõ hơn khái niệm của 5 từ kanji trên. Nó có tính tương đối cao, nên nếu có thiếu sót, các bạn cứ đóng góp ý kiến nhé.
Hiểu thêm về ことが、ことは
こと(事)Ý nghĩa kanji là “Sự” của “sự việc”.
こと ám chỉ một chuỗi hành động, một sự việc của bên thứ 3, mà người nói muốn truyền tải nội dung đến cho người đọc/nghe một cách khách quan.
こと thường sử dụng khi đưa 1 sự việc ra để đôi bên cùng thảo luận.
ví dụ như :
勉強する => Học (hành động làm)
勉強すること => Việc học (hành động về việc học)
Tóm lại, こと nó khá giống như việc bạn sử dụng #tag. Tập hợp nhiều sự việc khác nhau, thì nó gọi là Tag Cloud.
私は君が好きです。=> Anh thích em.
私は君のことが好きです。=> Anh thích mọi thứ về em
Ví dụ 1: như bài viết về は、が đây là 1 câu cụ thể về chủ thể là Em.
Ví dụ 2: Nghĩa là toàn bộ những gì tag #Vềem - #君の事 như giọng nói, nụ cười, con mắt, hành động trẻ con..v...v.... Anh đều thích. => nó biến thể thành (#君の事)が好きです。
ことは、ことが:
Như đã nói bên trên こと Chuỗi hành động, sự việc (#tag)
ことは ảm chỉ: sự việc (#tag) chung chung.
- Cái việc #tag thì (ことは)=> #việcA thì tốt, (#việcB thì không tốt)
ことが ảm chỉ: sự việc (1 #tag) cụ thể.
- Cái việc #tag này (ことが) => #sựviệcA này tốt lắm.
(Đọc thêm về bài は và が)
日本へ行ったことがあります => Tôi từng đi Nhật rồi.
私の先生は怒ることがあります => Đôi khi cô giáo tôi có nổi giận.
私はテニスをすることができます。=> Tôi có thể chơi được tennis.
*恐れることはない。=> Không cần thiết phải sợ.
Ví dụ 1: Việc #đãđi (#行ったこと) có nước Nhật là tôi đi rồi.
Ví dụ 2: Việc #nổinóng (#怒ること) cô giáo tôi cũng có (xảy ra)
Ví dụ 3: Việc #chơitennis (#テニスをする) tôi chơi được.
Ví dụ 4: Việc #sợhãi (#恐れること) thì không cần thiết.
* Đây là câu có sắc thái mệnh lệnh, là mang ý chủ quan của người nói, nhưng sử dụng こと để đặt nó ở tâm thế khách quan. Có thể hiểu đây người nói đưa ra ý kiến cho sự việc. Người nghe không cần phải làm theo.
Tổng Kết :
Trong Văn Viết, こと được tác giả sử dụng thường xuyên để nói về bên thứ 3, một sự việc (#tag), nhằm truyền tải nội dung đến cho người đọc một cách khách quan.
Rất ít cảm xúc chủ quan của tác giả, trừ phi là văn luận nêu quan điểm về sự việc (#tag) nào đó. Tuy nhiên vẫn ở một tâm thế khách quan.
Trong Văn Nói, こと không được dùng nhiều trong hội thoại đời thường, họ sẽ dùng 1 từ khác là もの để thể hiện cảm xúc, chủ quan, lý do cá nhân của mình.
Nhưng khi tranh luận logic về 1 sự việc (#tag), こと thường sử dụng khi đưa 1 sự việc ra để đôi bên cùng thảo luận. Không có chổ cho lời lẽ đả kích cá nhân, ngụy biện khi nói về sự việc.
は và が là hai trợ từ cơ bản nhất trong tiếng Nhật, và cũng là yếu tố gây mơ hồ trong việc xác định câu nếu không hiểu sắc thái, biết cách xác định rõ は và が sẽ giúp bạn nắm đúng ý của câu.
仕事は好きじゃない : Làm việc thì không thích.
仕事が好きじゃない : Tôi thì không thích làm việc này.
Nếu không nắm rõ は và が, thoạt đầu bạn sẽ hiều 2 câu này là cùng một ý. Nhưng thật ra sắc thái của nó khác nhau.
は có thể xem nó như là 1 thư mục chính, が là 1 thư mục phụ của nó.
仕事は好きじゃない => Làm việc thì không thích (Học thì thích).
仕事が好きじゃない => (tôi thì) không thích làm việc này.
Ví dụ như câu 1 có nghĩa là : Bạn không thích làm việc nói chung, nhưng việc học nói chung thì thích (một thư mục chính khác)
Ví dụ như câu 2 có nghĩa là : Bạn không thích làm việc cụ thể, có thể là việc bạn đang làm hoặc một công việc bạn đặc biệt không thích. (Thư mục chính ở đây là “Tôi - 私は”, thu mục phụ là “仕事が”)
Tương tự như vậy, với một ví dụ khác:
雨は降る:Mưa thì rơi (Nước thì chảy)
雨が降る:(Chổ kia) mưa rơi
Trong Passive られる:
彼は振られた => Anh ta thì bị “Đá” rồi (Anh khác thì bị gì đó không biết)
彼が振られた => (Mới nghe tin đồn là) Anh này bị “đá” rồi. (ai đá? xem thêm về に)
Tác Dụng:
は thường dùng cho những chủ đề chung chung. Nếu bạn thấy có 2 は trong câu văn, thì đó là 2 vấn đề không liên quan đang được đề cập. Nó tương đương với chữ “Thì" : Công việc thì, cơn mưa thì, anh ta thì.
が dùng cho chủ đề cụ thể (hay còn gọi là nhấn mạnh chủ thể muốn nói tới). が thì có thể có nhiều が (vì là thư mục phụ của は) nên có rất nhiều vấn đề cụ thể mà người nói muốn cho người nghe biết.
Nó tương đương với chữ “Này" : công việc này, cơn mưa này, anh này.
Nếu bạn có thắc mắc gì, xin hãy gửi câu hỏi, mình sẽ giải đáp cụ thể cho các bạn ^^
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
Khi đến Buenos Aires hồi đầu năm 2010, tôi hầu như không thể gọi món tại một nhà hàng địa phương. Hai năm sau, tôi đã có thể bình tĩnh giải thích các nguyên tắc ngữ pháp tiếng Nga cho người bạn đến từ Guatemala… bằng tiếng Tây Ban Nha. Giờ đây tôi có thể …
Ngôn ngữ đòi hỏi sự lặp đi lặp lại, rất nhiều những trải nghiệm để tham khảo và sự đầu tư và gắn bó kiên định. Sẽ tốt hơn nếu bạn dành một khoảng thời gian nhất định trong cuộc sống, dù chỉ là 1-2 tuần, và dốc sức 100% còn hơn là nỗ lực nửa vời trong vài tháng hoặc thậm chí vài năm.
1. Chữ 和 có nghĩa Hán Việt là HÒA, dịch sang tiếng Anh là Harmony (Hòa hợp, hài hòa, hòa thuận). Hòa trong tiếng Nhật còn được dùng với một nghĩa đặc biệt khác là "thuộc về Nhật Bản".
Ví dụ:
- "Hàng hóa Nhật Bản" (made in Japan) ngoài từ 日本製 (Nhật-Bản-Chế) thì còn có từ 和製 (Hòa-Chế). (和製英語 là tiếng Anh kiểu Nhật).
-"Đồ ăn Nhật Bản" (Japanese Food/cuisine) ngoài từ 日本料理 (Nhật_Bản_Liệu_Lí) thì còn có từ 和食 (Hòa-Thực)
Chữ Hòa thường hay đi một cặp phân biệt với chữ Âu chỉ người phương Tây. Người Nhật gọi quần áo kiểu Nhật (kimono, jenbei, hakama, yukata...) là Hòa-Phục và quần âu áo sơ mi là Âu-Phục. Đồ ăn kiểu Tây thì gọi là Âu-Thực...
Trong các nhà vệ sinh công cộng của Nhật hiện giờ vẫn còn cả hai loại: Loại ngồi xổm, và bệ xí ngồi bệt. Loại xổm, gọi là Hòa_Thức (Hình thức kiểu Nhật) còn kiểu bệt là Âu-Thức (Hình thức kiểu Tây). Đa số kiểu Âu vẫn thông dụng hơn, các nhà vệ sinh hoặc là có cả hai kiểu, hoặc nếu có một thì sẽ toàn là kiểu Âu. Và dù có cả hai kiểu thì số lượng kiểu Âu cũng nhiều hơn. Có vẻ người Nhật hiện đại thời nay, dù là trẻ hay già cũng thấy dùng hố xí ngồi bệt thoải mái hơn. Khi sử dụng các nhà vệ sinh công cộng ở các ga tàu lớn của Nhật, mình để ý thấy dù phải xếp hàng khá lâu mới tới lượt nhưng mọi người thường nhường cho người đứng sau nếu phòng trống là hố xí xổm. Và đôi khi, người được nhường cũng..chẳng thèm dùng và tiếp tục chờ để được sử dụng hố xí bệt.
Quay lại chủ đề HÒA: Chỉ riêng cách sử dụng chữ Hòa với ý nghĩa "mang tính Nhật Bản" đã khiến hinh dung đầu tiên và mạnh mẽ về Nhật Bản là sự HÀI HÒA. Trang đầu tiên của cuốn "Trái tim Nhật Bản" (日本人の心)tác giả cũng ưu ái dành cho chữ HÒA. Trong giáo án dạy môn Japan Studies của giáo sư Kawanishi cũng giảng về Harmony ngay ở buổi đầu tiên... HÒA bật lên như một đặc trưng của đất nước Nhật, con người Nhật.
2. : HÒA là giá trị cơ bản để con người hợp tác và làm việc. Nhật Bản từ xa xưa vốn dĩ là một nước đi lên từ nông nghiệp, mọi người buộc phải làm việc với nhau trên những mảnh ruộng chung. Chính vì thế, thay vì chỉ nghĩ cho bản thân mình, mọi người ai cũng phải đặt quyền lợi, nhu cầu của tập thể lên trên. Từ đó mới có thể cùng nhau làm nông được.
Trái với những xã hội săn bắn hay xã hội du mục_ đề cao sức mạnh và hành động cá nhân thì xã hội nông nghiệp Nhật Bản lại đề cao giá trị tập thể, cũng như người Nhật rất hay lo sợ việc mình sẽ làm phiền và ảnh hưởng đến người khác.
3. Chính vì vậy, có thể nói rằng HÒA chính là trái tim của người Nhật, là yếu tố trung tâm để hình thành mọi yếu tố khác trong hệ thống giá trị Nhật Bản.
Tuy nhiên, cần chú ý một điều rằng, HÒA trong xã hội Nhật đôi khi không còn là Harmony mà biến thành Similar. Vì quá chăm chăm giữ gìn hòa khí, chăm chăm bảo vệ mọi thứ thuộc về tập thể nên người Nhật luôn cố gắng hoặc vô thức kìm nén cái tôi của bản thân lại. Chi tiết sẽ được phát triển ở một bài khác.
Ảnh: Cùng rửa khoai mới thu hoạch với nông dân Nhật Bản, thành phố Noto tỉnh Ishikawa
Hairyo Hán Việt có nghĩa là Phối Lự. Phối trong "phân phối", "Lự" trong "lưỡng lự", "vô tư lự" (lo toan, suy nghĩ). Phối-Lự có nghĩa đen là "phân phát, chia sẻ tâm tư" hay hiểu mềm mại là quan tâm, để ý đến tâm tư tình cảm (của người khác). Nó cùng nghĩa với 心配り(kokoro-kubari) hay 気配り(kikubari). Dịch sang tiếng Việt cả ba từ này gần như trùng nghĩa. Tiếng Anh trong bản dịch của sách Heart and Soul of the Japanese là Consideration.
Để giữ được HÒA KHÍ (một vấn đề cũng rất quan trọng đối với người Nhật), họ làm gì cũng suy xét xem đối phương nghĩ gì, muốn gì. Ngay cả khi những gì đối phương muốn khác biệt hoàn toàn với nguyện vọng tâm tư của bản thân, thì người Nhật cũng cố gắng tìm cách ứng xử sao cho tránh xung đột. Có thể là bằng cách bày tỏ suy nghĩ vòng vèo, không trực tiếp, nói nhẹ bớt đi...
Có những trường hợp khi gặp tư tưởng khác biệt, người Nhật sẽ không phản ứng thẳng thắn như người phương Tây, trước mặt đối phương họ sẽ trả lời một cách mập mờ, để rồi sau đó lại tìm đến người có mối quan hệ thân thiết hay được đối phương tin tưởng để nhờ truyền đạt hộ tư tưởng, ý kiến của mình.
Trong khi đây là một cách ứng xử được cho là mang tính tích cực để bảo vệ HÒA KHÍ của người Nhật, thì với người nước ngoài, đôi khi nó lại đem đến những ảnh hưởng tiêu cực. Nhiều người sẽ cho rằng: Tại sao lại không truyền đạt trực tiếp với mình? Có phật ý gì không mà lại đi nói với người khác sau lưng mình? Hay là anh ta không tin tưởng tín trọng mình?..
HAIRYO là một nét văn hóa đặc sắc của người Nhật nhưng không phải lúc nào cũng được người nước ngoài đón nhận và thấu hiểu. Nhưng "nhập gia tùy tục" mà, nếu không thể "bắt" những người Nhật-Bản-Khép-Kín sử dụng giá trị văn hóa của họ với đúng đối tượng thì người nước ngoài đến Nhật hãy tìm hiểu văn hóa Nhật, hiểu cách nghĩ của người Nhật mà thấy được cái hay cái đẹp ẩn sâu bên trong những hành động tưởng chừng kì cục đó, chẳng phải sẽ hay hơn?
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality✓ Free Actions
Free to watch • No registration required • HD streaming
The noren (暖簾) is a small curtain that is hung over the front door of restaurants. It signifies that the shop is open for business and is intended to welcome customers. These can be found everywhere in Japan and can be seen here being put in place by a not-so-welcoming proprietress.