Cách thức nền kinh tế hoạt động (Phần 4)
Đường cong của vòng quay nợ ngắn hạn thường kéo dài 5 đến 8 năm và xảy ra thập kỉ này sang thập kỉ khác nhưng bạn có thể chú ý rằng đỉnh và đáy của mỗi đường cong kết thúc với việc có nhiều hơn sự phát triển so với vòng quay cũ nhưng cũng có nhiều nợ hơn. Tại sao? Bởi vì mọi người đẩy nó đi. Chúng ta có xu hướng mượn và chi tiêu nhiều hơn thay vì trả nợ, đó là bản chất con người. Bởi vì thế, qua một quãng thời gian dài, nợ tăng nhanh hơn thu nhập và tạo ra đường cong nợ dài hạn. Mặc dù mọi người đang trợ nên nhiều nợ hơn, người cho vay vẫn muốn mở rộng tín dụng. Vì sao? Bởi vì mọi người nghĩ mình đang làm tốt mọi việc. Mọi người chỉ chú ý vào điều gì đang xảy ra gần đây. Thu nhập đang tăng, giá trị tài sản đang tăng, thị trường chứng khoán thì sôi động. Tiền vay mượn dùng để mua sắm sản phẩm, dịch vụ và các tài sản tài chính. Khi mà mọi người làm rất nhiều việc như thế, chúng ta gọi đó là bong bóng. Do vậy, mặc dù nợ tăng lên, thu nhập cũng tăng kèm theo để có thể bù đắp chúng.
Hãy gọi tỉ lệ nợ so với thu nhập gọi là gánh nặng nợ nần. Vì vậy, khi mà thu nhập tiếp tục tăng, gánh nặng nợ nần vẫn nằm trong tầm kiểm soát, tại thời điểm đó, giá trị tài sản tăng lên. Những người vay những khoản tiền cực lớn để mua tài sản, và đầu tư khiến cho giá cả của chúng gia tăng, mọi người sẽ có cảm giác là họ giàu có. Vì thế ngay cả việc tích tụ rất nhiều nợ, việc gia tăng thu nhập và giá trị tài sản, người vay vẫn còn đáng tin cậy tín dụng trong một thời gian dài, nhưng hiển nhiên điều này sẽ không tiếp tục mãi mãi. Qua vài thập kỉ, gánh nặng nợ nần dần tăng lên và vượt qua lượng tiền trả nợ. Tại một điểm nào đó, lượng tiền dùng để trả nợ bắt đầu tăng nhanh hơn thu nhập và ép mọi người giảm bớt chi tiêu. Và bởi vì chi tiêu của người này là thu nhập của người kia, thu nhập sẽ giảm khiến cho tin cậy tín dụng của mọi người giảm xuống, khiến cho vay mượn giảm xuống. Khoản chi trả nợ tiếp tục tăng khiến cho việc chi tiêu còn giảm xuống nữa và đường cong đảo ngược. Đó là đỉnh nợ dài hạn, gánh nặng nợ nần đơn giản trở nên quá lớn. Với nước Mĩ, châu Âu và rất nhiều nơi trên thế giới điều này xảy ra vào năm 2008, Nhật 1989 và trước đó 1929 tại Mĩ. Khi đó, nền kinh tế bắt đầu thắt chặt chi tiêu. Khi đó, mọi người cắt giảm chi tiêu, thu nhập giảm, tín dụng biến mất, giá trị tài sản giảm, ngân hàng bị siết chặt, thị trường chứng khoán sụp đổ, căng thẳng xã hội gia tăng. Khi thu nhập giảm và lượng tiền trả nợ tăng lên, người vay nợ bị vắt kiệt và không còn tin cậy tín dụng nữa, tín dụng tăng lên và người mua không còn mượn đủ tiền để có thể trả nợ nữa.
Khi người vay mượn bán tài sản
Khi rơi vào những hoàn cảnh này, người mua bắt buộc phải bán đi tài sản. Sự gấp rút trong việc bán đi tài sản gây lũ thị trường tại thời điểm mà thu nhập giảm đi. Đó là khi thị trường chứng khoán sụp đổ, thị trường bất động sản trì trệ và các ngân hàng gặp rắc rối. Khi giá tài sản giảm, giá trị tài sản thế chấp của người vay giảm theo và điều này càng khiến cho họ trở nên kém tin cậy tín dụng hơn, mọi người cảm thấy nghèo khó, tín dụng nhanh chóng biến mất. Càng chi tiêu ít, thu nhập càng ít, sự giàu có càng ít, tín dụng càng ít, vay mượn càng ít và cứ thế, đó là một vòng luẩn quẩn. Điều này cũng dẫn đến sự suy thoái nhưng điều khác biệt ở đây tỉ lệ lãi suất thấp không thể cứu vãn được. Trong một cuộc suy thoái, làm giảm tỉ lệ lãi suất nhằm kích thích vay mượn, dĩ nhiên trong quá trình giảm nợ, làm giảm lãi suất không hoạt động bởi lẽ lãi suất vốn dĩ đã thấp và sẽ dần chạm mức 0%, vì thế sự kích thích chấm dứt. Tỉ lệ lãi suất tại Mĩ chạm 0% vào những năm 1930 và sau đó vào năm 2008. Sự khác biệt của một cuộc suy thoái và giảm nợ đó là trong quá trình giảm nợ, gánh nặng vay mượn đơn giản là quá nhiều và không thể phục hồi nhờ việc giảm lãi suất.
Người cho vay nhận ra rằng nợ đã quá nhiều để có thể trả lại được. Người vay mất đi khả năng trả nợ và tài sản thế chấp của họ mất đi giá trị. Họ cảm giác tê liệt bởi nợ nần và họ không muốn thêm nữa, người cho vay ngừng việc cho mượn, người vay ngừng việc mượn tiền. Hãy nghĩ về một nền kinh tế không còn tin cậy tín dụng, giống như một cá nhân, bạn sẽ làm gì khi gặp một cuộc giảm nợ? Vấn đề ở chỗ gánh nặng nợ nần quá cao và nó phải giảm xuống. Có 4 cách để điều này diễn ra: 1, mọi người, các tổ chức kinh tế và chính phủ giảm chi tiêu. 2, nợ được đưa về trạng tái cơ cấu. 3, phân phối lại thu nhập từ người có đến tay người không có và 4, ngân hàng trung ương in thêm tiền. Bốn cách này diễn ra trong mọi cuộc giảm nợ trong lịch sử hiện tại. Thường thì cắt giảm chi tiêu diễn ra đầu tiên, khi mà các tổ chức kinh tế và chính phủ thắt chặt chi tiêu để họ có thể trả bới nợ. Khi người vay mượn tạm dừng chi tiêu và bắt đầu trả nợ, bạn có thể kì vọng gánh nặng nợ nần sẽ giảm đi nhưng điều ngược lại lại xảy ra bởi lẽ khi chi tiêu giảm, đồng nghĩ với đó là thu nhập giảm. Nó giảm nhanh hơn việc nợ được trả và gánh nặng nợ trở nên tồi tệ hơn. Cắt giảm chi tiêu tạo ra giảm phát và những tổn hại lớn, công ty phải cắt giảm chi phí, điều đó đồng nghĩa với tỉ lệ thất nghiệp cao.