“Cái này sẽ làm bồ tỉnh ra đó,” tôi nói, chìa ra một chai bia lạnh trước mặt hắn ta. Y cầm lấy tu một ngụm dài rồi chườm lên mắt phải đang sưng tấy. Tôi ngồi xuống cạnh hắn và mở gói bánh ra ăn. Bây giờ là 11 giờ 45 tối và chúng tôi đang ngồi ở trước một cửa hàng tiện lợi.
“Cám ơn,” hắn nói, dựa lưng vào cửa kính và thở ra một hơi dài.
“Bồ nghĩ thằng đó có sao không vậy?”
“Kệ nó. Thằng khốn đó bị vậy đáng lắm,” hắn la lên một cách bực bội, mà cũng có vẻ rất hả hê. “Bồ quan tâm nó làm gì?”
“Ai biết được, lỡ thằng đó bị chấn thương nội tạng, xong về nhà ngủ một giấc ngàn thu.”
“Bồ không thấy nó với mấy đứa khác tẩn tôi một trận hả? Khỏi lo cho nó. Bồ có đánh nó đâu mà quan tâm.”
Tôi không biết phải nói gì, chỉ biết nhìn hắn cười. Lúc tôi rời khỏi sân tennis và vừa đến quán bar thì vụ ẩu đả đã đi hơi quá trớn. Thành thật mà nói, lôi được hắn ra khỏi đống lộn xộn đó có lẽ tôi cũng đã vô tình xô đẩy hay đấm ai đó vài cú.
“Dù sao cũng cám ơn,” hắn nói, nhìn lơ đãng đâu đó.
“Không có chi. Mà sao bồ gây sự với tụi nó vậy? Tôi tưởng bồ đi liên hoan tất niên mà. Bộ tìm được việc mới rồi hả?”
“Người như bồ sao hiểu được mấy chuyện đánh đấm,” hắn vừa nói vừa đưa tay đấm vào không khí minh hoạ. “Tôi nghĩ con người bây giờ văn minh quá. Mà thứ văn minh đó chỉ là vỏ bộc để kiềm hãm bản chất của người ta thôi. Ví dụ đi, nếu bồ tức thì bồ sẽ làm gì?”
“Nếu bồ không nhịn được thì sao?”
“Tôi không biết nữa. Chắc là tôi nhốt mình trong phòng rồi la hét cho thoải mái.”
“Làm vậy hiệu quả không?”
“Bồ mà làm vậy thì chỉ có hại cho cổ họng thôi. Thay vì làm hại bản thân, bồ tức đứa nào, bồ đánh đứa đó. Trường hợp xấu nhất nó đánh bồ lại tơi tả, nhưng ít ra bồ cũng đấm vào mặt nó được một vài cái.”
“Nếu lỡ tôi không đấm nó được cái nào mà cũng bị đánh nhừ tử thì sao?”
“Thì bồ nên đi đánh nhau nhiều hơn chứ sao,” hắn nói, đập tay lên tay tôi. “Đô to khoẻ mạnh như bồ mà không đánh nhau thì phí lắm.”
“Bồ biết không, người ta nói kẻ mạnh thì đủ sức ra khỏi một cuộc chiến, còn kẻ thông minh thì đã không tham chiến từ ban đầu rồi.”
“Tôi đọc ở đâu đó quên rồi.”
“Nếu mà bồ có ở đó, thông minh và hèn nhìn cũng giống như nhau thôi. Mà tôi thì không hèn rồi đó. Đứa nào đánh tôi, tôi đánh nó. Nếu mà tôi đánh nó trước, thì nó cũng có quyền đánh lại tôi.”
Tôi cười. Thông minh và hèn nhát cũng giống nhau. Không chắc điều đó vốn dĩ là để nói với bản thân mình hay những người xung quanh.
“Chỉ cần nghĩ tới cảnh cả thế giới giam mình trong phòng rồi la hét thôi đã thấy muốn phát điên lên rồi. Đánh nhau là không văn minh. Còn tự đày đoạ bản thân mình rồi làm những điều khủng khiếp là văn minh à?” hắn lập luận. “Bồ thấy đó, bị đánh cho một cú trời giáng, mở mắt dậy thì thế giới cũng không thay đổi, cho dù bồ gãy vài cái răng, nhưng ít ra bồ cũng đỡ bực tức.”
Thật ra hắn cũng có lí. Tôi thì không có ý kiến gì để phản bác lại. Còn hắn thì trầm ngâm nghĩ ngợi gì đó. Bỗng dưng những cơn gió trở nên lạnh lẽo hơn.
“Bồ có nhớ hồi lúc còn nhỏ, bồ hay trốn trong nhà và xây pháo đài bằng gối không?” hắn hỏi, giật lấy gói bánh trong tay tôi.
“Nhớ. Sao tự dưng nhắc lại mấy chuyện đó vậy?” tôi nói. Thời điểm đó cách đây đã lâu rồi, lúc chúng tôi còn là hai đứa trẻ hàng xóm. Mẹ tôi từng là bác sĩ mắt khoa nhi và mở phòng khám ở nhà. Bà đã rất hy vọng tôi cũng sẽ nối nghiệp và trở thành bác sĩ nhãn khoa. Bởi vì điều đó nên mẹ luôn bắt tôi ngồi ở một góc nhìn bà làm việc. Mỗi ngày có rất đông những đứa trẻ đủ mọi lứa tuổi đến khám. Những đứa có tật khúc xạ thì đo nhãn áp và kê đơn thuốc hay làm kính. Còn những đứa bị chắp mắt thì sẽ mổ tại chỗ. Cứ khoảng vài ngày lại có một đứa như vậy đến. Bình thường phải cần đến 4 người để giữ chặt đứa đó. Tụi nó khóc thét lên và giãy giụa như bị động kinh ngay từ khi kim gây tê chưa đụng vào người. Còn những gì diễn ra sau đó cũng không khá hơn. Và tôi phải chứng kiến cảnh tượng đó từ đầu tới cuối. Phải nghe tiếng hét xé tai, tiếng gọi mẹ ơi, con đau quá, cho con về nhà của tụi nó. Mà điều làm tôi nhớ nhất đó là trên cây đèn mổ mẹ tôi có gắn vài con bươm bướm giả và mấy quả cầu người ta treo lên cây thông giáng sinh. Tôi nghĩ mẹ tôi đã nghĩ lúc nằm nhìn lên trong đau đớn, thấy những thứ đó sẽ làm tụi nó dịu đi đôi chút. Tôi thì nghĩ nó lại phản tác dụng. Bởi vì chúng bàng quan và lãnh cảm với những nổi đau, chứ không hề xoa dịu. Kiểu như xát muối vào vết thương bằng một thứ hão huyền mà nhắc người ta rằng họ sẽ không bao giờ có được nó vậy. Dần dần tôi cảm thấy sợ tiếp xúc với người khác, bởi vì tôi luôn nghĩ đến cảnh tượng họ trên ghế mổ, gào thét. Thế nên tôi xây một pháo đài bằng gối trong phòng để khoá mình lại khỏi nỗi đau của người khác. Dù pháo đài gối làm tôi cảm thấy an toàn, nó vẫn có một kẽ hở nhỏ tôi không thể nào lấp lại được.
Tôi ngồi nép vào một góc trong thế giới đen tối của mình trong pháo đài, nhìn vào tia sáng le lói lọt vào khe hở.
“Bất chợt thôi,” hắn nói. “Lúc đó thế giới thật nhỏ bé. Bồ hiểu không?”
“Thì phòng tôi cũng đâu rộng lắm,” tôi cười.
“Thế giới là căn phòng của bồ. Còn chúng ta thì ở trong một pháo đài.”
Tôi chưa bao giờ nghĩ theo cách đó.
“Tôi hay đưa mắt nhìn ra khỏi kẽ hở trong pháo đài và tưởng tượng đủ mọi thứ. Bên ngoài đáng sợ lắm, toàn là quái vật chuyên bắt cóc những đứa trẻ.”
“Đúng vậy. Dù tôi sợ lắm. Tôi sợ một ngày nào đó bọn quái vật sẽ tìm thấy tôi ở đó và bắt tôi đi. Nhưng tôi nghĩ chỉ cần tôi chịu đựng được thì tôi sẽ không sao hết,” hắn nói, vẻ mặt hắn hờ hững, nhưng trong giọng nói thì có gì đó giống như cố gắng đẩy một cánh cửa không bao giờ bung ra. “Có lúc tôi muốn gào lên nhưng quay lại thấy bồ ngồi ở đó trong góc tôi lại nuốt ngược nó vào trong.”
“Tôi nghĩ tôi phải chứng tỏ cho bồ thấy là tôi không yếu đuối. Tôi đủ can đảm để nhìn trực tiếp vào thế giới đen tối đó.”
“Đâu cần phải làm vậy. Tôi biết bồ như thế nào mà,” tôi nói, nhìn hắn cảm thông.
“Dù sao đi nữa,” hắn phớt lờ. “Bây giờ nhìn lại tôi mới thấy những điều đó thật vớ vẩn. Thế giới này mới là đáng sợ. Một thế giới rộng lớn, đủ mọi loại quái vật. Tôi không còn nhìn nó qua khe hở nào nữa, tôi đang ở trong lòng thế giới đó và chiến đấu. Gian khổ lắm.”
“Bồ hiểu sao? Hôm nay tôi vẫn còn phải đến công ty, còn bồ thì đi đánh tennis,” hắn nói một cách mỉa mai.
“Đánh tennis cũng khó khăn lắm bồ đừng xem thường.”
“Tôi thấy chả có gì khó cả. Chạy qua chạy lại. Đánh cho trái banh bay đi chỗ khác. Đơn giản.”
“Đúng vậy. Chạy. Và đánh cho trái banh bay đến chỗ người khác không thể đánh lại chỗ bồ được.”
Trời bắt đầu đổ mưa to. Tôi và hắn đứng dậy và đi đến chỗ mái hiên trú.
“Ý tôi là thế giới cần những người như bồ, và cũng cần những người như tôi.”
“Đó đâu gọi là giải thích,” hắn cằn nhằn.
Tôi không trả lời. Cơn mưa xối xả đổ xuống nghe cũng giống hàng tỉ trái banh tennis rơi xuống vậy. Chúng chạm đất và tưng đến đủ mọi chỗ. Chỉ nghĩ đến đó tôi đã thấy ngộp thở. Trong đầu tôi hiện ra hình ảnh của một đứa trẻ đang nằm trên ghế mổ. Không có ai ở đó ngoài cậu ta và tôi. Cậu ta không la hét, không giãy giụa, cậu ta chỉ nằm im, hai lòng bàn tay nắm chặt lại. Và đứa trẻ đó ngồi dậy, rồi nhìn tôi với gương mặt đỏ và nước mắt giàn giụa. Khắp không gian vang vọng một giọng nói: chỉ cần tôi chịu đựng được thì tôi sẽ không sao hết.
“Thật ra thì nhiều lúc tôi cũng muốn bỏ trốn lắm,” hắn nói, kéo tôi trở lại hiện thực.
Hắn nhìn tôi. Mắt hắn đã đỡ sưng hơn lúc nãy.
“Cho dù anh có gãy vài cái răng thì mở mắt ra thế giới vẫn ở đó mà đúng không?” tôi nói.
“Nhưng trong tôi cảm giác như không còn nguyên vẹn nữa.”
“Giống như tôi bước qua một cánh cửa, sau khi bước qua rồi tôi không còn như lúc ban đầu nữa.”
“Ai cũng phải thay đổi mà?”
“Nhưng tại sao tôi phải thay đổi? Nếu có gì đó thay đổi, tôi chỉ muốn mình không bao giờ phải thay đổi.”
“Điều đó có lẽ không bao giờ trở thành sự thật đâu.”
“Cho nên tôi mới phải chạy trốn,” hắn nói. “Chạy trốn bằng đủ mọi cách. Để khi thức dậy tôi được tự do trở thành con người mình muốn.”
“Vậy anh muốn trở thành người như thế nào?”
“Tôi cũng không thật sự biết nữa. Tôi đoán chắc là bất kì thứ gì, miễn tôi cảm thấy vui vẻ là được.”
“Nếu bồ trở thành người khác, bồ sẽ nhận ra tôi là ai chứ?” Thật khó để nói rằng tôi cũng muốn cổ vũ cho suy nghĩ đó của hắn. Nó giống như kí ức về hắn mờ dần cho đến lúc tan vào hư vô. Một giây phút trước nó vẫn ở đó, và một giây sau thì không. Tôi cảm thấy sự tồn tại của mình trở nên thật đau đớn.
“Tôi sẽ nhớ bồ nhiều lắm.”
“Nhảm nhí,” tôi nói, đấm vào tay hắn.
“Tôi nói nghiêm túc mà,” hắn nói. “Lúc chúng ta còn là mấy đứa nhóc, tôi nghĩ đó là quãng thời gian đẹp đẽ nhất tôi đã từng có. Đôi khi nghĩ về nó cũng làm tôi thấy hơi... buồn, vì nó đã vĩnh viễn là quá khứ rồi. Nhưng đồng thời những kí ức đó làm tôi cảm thấy mình không cô đơn, không phải chịu đựng một mình nữa. Nó làm tôi cảm thấy mình là một con người, bồ hiểu không? Một con người có thể cảm nhận được hơi ấm chứ không phải là một cỗ máy lạnh lùng. Điều đó quan trọng lắm. Nhưng tôi sợ nó sẽ phai đi và biến mất. Nên nếu có thể, tôi muốn cất những điều bé nhỏ tuyệt vời ấy vào trong một chiếc rương, và chôn nó xuống một nơi mà chỉ có tôi biết.”
Tôi nhìn hắn đứng bên ngoài qua lớp cửa kính lúc đang đợi thanh toán. Nó cũng giống như tôi đang nhìn mấy thứ mẹ tôi treo trên đèn mổ vậy. Tôi biết mình sẽ cất vào trong chiếc rương đó những gì. Một hình ảnh, một đôi mắt sáng lên trong bóng tối, một kí ức về hai đứa trẻ ở trong pháo đài sợ sệt nhìn ra thế giới. Những thứ đó lấp đầy trái tim tôi mỗi khi tôi cảm thấy trống rỗng, bởi tôi biết không có gì tồn tại mãi mãi. Tôi muốn khoá những điều đó sâu xuống lòng đất, ở một nơi thật xa mà không ai ngoại trừ chúng tôi có thể biết được, nơi mà ngay cả những cánh tay của thời gian cũng không thể chạm tới.
Khi tôi ra ngoài, hắn đã ngủ gật từ lúc nào không hay, chai bia vất vưởng trên mặt đất. Ngoài trời mưa càng nặng hạt.