My Randy Cunningham future AU: "Randy Cunningham the 21 Year Old Unemployed Normal Keytar Player Guy". In it, Randy Cunningham is a 21 year old unemployed normal keytar player guy
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality
Anya is LIVE right now
FREE
Free to watch • No registration required • HD streaming
Mình có thể đọc một quyển sách dày nghìn trang trong hai ngày, rồi khóc vì nó suốt một tháng sau đó. Đấy, lý do mình đọc chậm đấy.
Mục tiêu đọc năm nay (thay đổi theo tâm trạng, nhưng vẫn là những gì mình muốn làm):
Đọc càng nhiều Murakami càng tốt, để ít nhất nắm được một cách khái quát lối viết và cách xây dựng cốt truyện chung của ông. Không có ý định trở thành người hâm mộ.
Đọc cho hết những cuốn kinh điển đã có trên giá từ lâu, như Chúa Nhẫn, Bóng ma trong nhà hát, Trăm năm cô đơn, Đồi gió hú, Giã từ vũ khí. Thật ra thì sau môn Văn học tiếng Anh kỳ trước, mình cũng hiểu được sự cần thiết của việc đọc tác phẩm kinh điển rồi.
Đọc thêm văn học Việt Nam hiện đại. Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Chu Lai là những cái tên hiện tại mình đang có trong đầu.
Đọc nhiều truyện ngắn giả tưởng hơn để dịch cho @thenutcrackers2021.
Còn dưới đây là số sách mình đọc từ đầu năm tới giờ:
Tháng 1
1. Khu vườn bí mật (1911) - Frances Hodgson Burnett
2. Mùa thu của cây dương (1997) - Kazumi Yumoto
3. Người minh họa (1951) - Ray Bradbury
4. 1Q84 (2009) - Haruki Murakami
5. Tôi là một con lừa (2013) - Nguyễn Phương Mai
Tháng 2
6. Bản chất của người (2014) - Han Kang
7. Kafka bên bờ biển (2002) - Haruki Murakami
8. Khu vườn mùa hạ (1992) - Kazumi Yumoto
9. Trăm năm cô đơn (1967) - Gabriel Garcia Marquez
10. Cảnh đồi mờ xám (1982) - Kazuo Ishiguro
11. Nhà hàng ở tận cùng vũ trụ (1980) - Douglas Adams
Fire Watch: A student historian gets sent back to 1940 during the London Blitz for his practicum - his mission is to protect St Paul's from being bombed. Ultimately it's about how history cannot just be seen through statistics and how the lives of countless people have been buried in time. Not really a ground-breaking concept, the suspends too great to enjoy little moments, but yes, tell me more about these students.
Service for the Burial of the Dead: Victorian eerie ghost story. The readers are left clueless whether the events are real or only in the mind of Anne. Maybe she feels guilt.
Lost and Found: some Revelations about the end of the world, is the twist of two quotes from St John's Book of Revelation: "For the Son of Man is coming at an hour you do not expect" and "The Son of Man is come to save that which is lost." Didn't understand shit, will come back later.
All my Darling Daughters: Slangy language with lots of swearing. The contrast between the main characters seeming knowledge that she's been through a lot with what she actually knows and how messed up the world actually is is well done. The ending is plain shock. Love the story, though it makes me super uncomfortable.
The Father of the Bride: Sequel to Sleeping Beauty, exploring the Middle Ages, invasion by English and French (?) soldiers with a hint of the Black Death. Fascinating, too short though.
A Letter from the Clearys: a realistic take on a family trying to survive after a nuclear bomb. Depressing. Willis captures humans' psychology really well.
The Sidon in the Mirror: Cool world (a shutoff star). Very packed, both world-building and character development. The thrills' mainly about who Ruby's gonna copy in the end. Ending not impactful though.
And Come from Miles Around: Housewife / Mother notices things people do not during the Eclipse. Nice plotline with contrasting, lovely characters. A bit nonsensical though.
Daisy, in the Sun: Equating a girl's puberty with an apocalypse. Masterful building up. The twist is shocking and heartbreaking, character subdued to darkness. Haunting. Feminist.
Mail Ordered Clone: A man orders a clone from a magazine, unknowing that it's only a scheme for another man to get to his wife. Lighthearted, but the main character is so dumb and clueless, and not very memorable.
Samaritan: An orangutan wants to be baptized, having clearly known that he's not human and dies trying to act human. Posed some excellent arguments over what really makes us humans.
Blued Moon: Basing on the saying "Once in a blue moon" to create comical situations. Characters quite endearing, though some are a bit overplayed (Charlotte). This author knows exactly the effect of her use of words on the readers. She's being satire? Reminiscence of O'Henry at some points.
Trích dẫn từ cuốn "Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian" của Ocean Vuong, bản dịch của Khánh Nguyên.
"Con có bao giờ tưởng tượng ra một cảnh," mẹ nói trong lúc tô màu một căn nhà do Thomas Kinkade vẽ, "rồi đặt mình vào đó không? Con có bao giờ quan sát con từ đằng xa, nhìn mình tiến xa hơn vào trong khung cảnh đó, bỏ lại mình?"
Con biết nói sao cho mẹ biết, chuyện mẹ đang diễn tả ấy, chính là sự viết? Con biết nói sao cho mẹ hiểu rằng, rốt cuộc, hai mẹ con mình vẫn gần nhau đến vậy, bóng tay mẹ và bóng tay con, trên hai trang giấy khác nhau, nhập lại làm một?
(tr. 15)
.
Chuyến di cư có thể bắt đầu bởi góc chiếu của nắng, báo hiệu sự thay đổi về mùa, về nhiệt độ, đời sống của cây và nguồn cung cấp thức ăn. Bướm cái đẻ trứng dọc đường đi. Lịch sử nào cũng có nhiều hơn một mạch, mỗi mạch là một câu chuyện về sự phân chia. Hành trình của chúng dài bốn ngàn tám trăm ba mươi dặm, hơn cả bề dài của đất nước này. Những con bướm bay về phương Nam sẽ không bao giờ trở lại phương Bắc. Vậy nên mỗi chuyến đi đều là chuyến cuối. Chỉ có con của chúng trở về, chỉ có tương lai thăm lại quá khứ.
Đất nước là gì ngoài một câu (sentence) không biên giới, một đời?
(tr. 17)
.
Có lần mẹ nói con rằng mắt người là tạo vật cô đơn nhất của Chúa. Vì quá nhiều thứ trên thế giới đi qua con ngươi mà nó vẫn không giữ lại điều gì. Con mắt trong hốc, một mình một cõi, còn không biết rằng có một vật khác, giống nó y hệt, cách chỉ vài phân, cũng đói khát và trống rỗng như nó.
(tr. 22)
.
Cái lúc, khi đang lặt một rổ rau đậu que bên bồn rửa, đột nhiên mẹ nói, "Mẹ không phải quái vật. Mẹ là mẹ."
Ý ta là gì khi nói kẻ sống sót? Có lẽ kẻ sống sót là kẻ cuối cùng về nhà, con bướm cuối cùng đậu lên nhánh cây đã nặng trĩu những hồn ma.
Buổi sáng dần vây lại quanh mẹ con mình.
Con để sách xuống. Đầu đậu que theo nhau gãy tanh tách. Lộp độp rơi như những ngón tay xuống bồn rửa thép. "Mẹ không phải quái vật," con nói.
Nhưng con nói dối.
Điều con thật sự muốn nói là làm quái vật cũng chẳng phải điều gì quá kinh khủng. Quái vật - monster - có gốc trong tiếng Latin là monstrum, một sứ giả của thần chuyên cảnh báo thảm họa, rồi được tiếng Pháp cổ lấy dùng để chỉ một con vật có vô số nguồn gốc: nhân mã, điểu sư, dương thần. Làm quái vật tức là làm một tín hiệu lai tạp, làm một ngọn hải đăng: vừa báo hiệu nơi trú ẩn vừa cảnh báo hiểm nguy.
Con đọc được rằng cha mẹ bị hậu chấn tâm lý có khả năng cao hay đánh con cái. Biết đâu chuyện đó rốt cuộc cũng có một nguồn gốc quái vật thì sao. Biết đâu vung tay đánh con mình là chuẩn bị cho nó đến với chiến tranh. Là nói rằng sở hữu một nhịp tim là việc không bao giờ đơn giản như trái tim làm nhiệm vụ nói vâng vâng vâng với cơ thể.
Con không biết nữa.
Con có biết là lúc ở Goodwill mẹ đưa con cái đầm trắng, mắt mẹ dại đi, mở to. "Con đọc coi," mẹ nói, "nó có kháng lửa không?" Con soi mép đầm, nghiên cứu dòng chữ trên mác, và dù khi đó con chưa biết đọc, con vẫn đáp, "Có mẹ." Con vẫn nói vậy. "Có," con nói dối, giơ cái đầm lên ngang cằm mẹ. "Nó kháng lửa."
Nhiều ngày sau, một thằng nhóc hàng xóm, trong lúc đạp xe ngang nhà mình, sẽ bắt gặp con đang bận cái đầm đó trước sân nhà trong khi mẹ đi làm - con đã bận vào vì muốn trông giống mẹ hơn. Vào giờ ra chơi hôm sau, mấy đứa đó sẽ gọi con là bóng, lại cái, pê đê. Mãi về sau này, con mới học được rằng, những từ đó cũng là biến thể của quái vật.
Đôi lúc con tưởng tượng đàn bướm chạy trốn không phải mùa đông mà là những đám mây napalm trong tuổi thơ Việt Nam của mẹ. Con tưởng tượng chúng bay khỏi vụ nổ cháy đùng đùng mà vẫn an toàn nguyên vẹn, đôi cánh hai màu đỏ đen nhỏ xíu chấp chới như những mảnh vụn cứ ùn ùn bay hàng dặm liền qua bầu trời, để rồi khi nhìn lên, ta không hình dung nổi vụ nổ mà chúng từ đó bay ra nữa, chỉ còn thấy một gia đình bướm trôi qua bầu trời sạch trong mát lạnh, bằng đôi cánh, sau bao nhiêu đám cháy, rốt cuộc cũng thành kháng lửa.
"Hay quá con." Mẹ đưa mắt nhìn xa xăm qua vai con, gương mặt mẹ đanh lại, cái đầm áp lên ngực. "Thật hay quá."
Mẹ ơi, mẹ là mẹ. Mẹ cũng là quái vật. Nhưng con cũng vậy - đó là lý do con không thể ngoảnh mặt khỏi mẹ. Đó là lý do con đã lấy tạo vật cô đơn nhất của Chúa và đặt mẹ vào đó.
Con nhìn.
(tr. 22 - 24)
.
Không đối tượng nào ở trong mối quan hệ thường trực với khoái cảm, Barthes viết. Tuy nhiên, đối với nhà văn, tiếng mẹ đẻ chính là một thứ như thế. Nhưng nếu tiếng mẹ đẻ ấy cùn lụt thì sao? Nếu thứ tiếng đó không chỉ là biểu tượng của khoảng không, mà bản thân nó là khoảng không, nếu cái lưỡi được mẹ đẻ ra đó bị cắt cụt? Người ta có thể có khoái cảm trong mất mát mà không để mất bản thân hoàn toàn không? Tiếng Việt con là tiếng Việt mẹ cho con, là tiếng Việt mà từ vựng và cú pháp chỉ đi đến lớp hai.
Hồi còn nhỏ, núp sau bụi chuối, mẹ nhìn ngôi trường nhỏ của mình đổ sụp sau một cuộc rải bom napalm của Mỹ. Ở tuổi lên năm, mẹ không hề đặt chân vào một lớp học nào nữa. Thế nên, tiếng mẹ đẻ của mình không thể che chở cho mình - vì cả nó cũng mồ côi. Tiếng Việt của mẹ con mình là một tráp kỷ vật, một mốc đánh dấu nơi sự học của mẹ kết thúc, hóa thành tro. Nên, mẹ à, nói tiếng mẹ đẻ đối với mình là nói thứ tiếng Việt dở dang, nhưng là nói tiếng chiến tranh hoàn thiện.
Tối đó con tự hứa với lòng sẽ không bao giờ để mình thiếu chữ khi mẹ cần con nói thay mẹ. Vậy là con bắt đầu sự nghiệp thông dịch viên chính thức cho gia đình. Từ lúc đó, con sẽ điền vào những chỗ trống, những khoảng lặng, những ngắc ngứ của nhà mình bất cứ khi nào có thể. Con chuyển đổi giữa hai bộ mã. Con tháo tiếng của mình ra và đeo tiếng Anh của con vào, như đeo mặt nạ, để người ta nhìn thấy mặt con, và nhờ đó thấy được mặt mẹ.
(tr. 45 - 46)
.
Sẽ có ai lạc mất trong câu chuyện ta tự kể cho mình? Sẽ có ai lạc mất trong chính chúng ta? Rốt cuộc, một câu chuyện cũng giống với việc nuốt. Mở miệng ra, nói thành lời, là chừa lại mỗi xương mãi mãi không được kể đến.
(tr. 60)
.
Chúng ta vòng tránh chính mình để có thể tiến lên.
(tr. 73)
.
[...] Và con cứ để ông nói hết suy nghĩ trong đầu. Con để ông trút cạn. Con không ngắt lời ông vì khi chín tuổi ta không ngắt lời ai cả.
(tr. 75)
.
Con muốn kể với mẹ nhiều lắm. Con từng ngu ngốc tới độ tin là hiểu biết sẽ giúp làm sáng tỏ, nhưng có những thứ bị lấp dưới quá nhiều những lớp cú pháp và ngữ nghĩa, quá nhiều những ngày và giờ, những cái tên đã chìm vào quên lãng, bị chối bỏ lẫn được cứu vớt, đến độ biết vết thương có tồn tại cũng vẫn là không đủ để lộ nó ra.
Con không biết mình đang nói gì nữa. Con đoán ý con muốn nói là, đôi khi con không biết chúng mình là gì hay là ai. Có những ngày con cảm thấy là một con người, trong khi những ngày khác con cảm thấy mình là một âm thanh thì đúng hơn. Con chạm vào thế giới nhưng không phải là con mà là một tiếng vọng của thứ từng là con. Mẹ có nghe được con chưa? Mẹ có hiểu được con không?
Khi mới bắt đầu viết, con ghét mình lúc nào cũng không chắc chắn, về những hình ảnh, cụm từ, ý tưởng, thậm chí cây viết hay cuốn sổ con dùng. Mọi thứ con viết đều bắt đầu bằng có lẽ hay biết đâu và kết thúc với tôi nghĩ hay tôi cho là vậy. Nhưng sự ngờ vực của con nằm khắp nơi mẹ à. Ngay cả khi con biết một điều gì đó chắc như đinh đóng cột thì con vẫn lo là điều con biết sẽ tan đi, sẽ không còn thực mãi, bất chấp con đã viết nó ra. Con đang đập nhỏ chúng mình ra để con có thể mang mình đến một nơi khác - nơi nào, cụ thể, con không chắc. Cũng như con không biết phải gọi mẹ thế nào - một phụ nữ da trắng, Á Đông, mồ côi, Mỹ, một người mẹ?
[...] Khi được hỏi về gốc gác của mình, Tiger Woods tự nhận là "Cablinasian", một từ ghép ông chế ra để chứa hết tất cả những dân tộc đã tạo nên mình gồm Hoa, Thái Đen, Hà Lan và bản địa Mỹ.
Tồn tại hay không tồn tại. Đó là câu hỏi duy nhất. Là câu hỏi, đúng, nhưng đâu phải là lựa chọn.
(tr. 83 - 85)
.
Có những lần, vào tối khuya, con trai mẹ thức giấc mà tin rằng có một viên đạn ghim trong mình. Nó cảm thấy viên đạn ấy trôi nổi bên ngực phải, ngay giữa những rẻ sườn. Viên đạn ấy đã ở đây từ muôn thuở, thằng nhóc nghĩ, còn già hơn cả bản thân nó - và những xương, gân, mạch máu của nó chỉ đơn giản là bọc quanh mảnh kim loại kia, gói kín nó lại bên trong thằng nhóc. Nằm trong bụng mẹ, thằng nhóc nghĩ, không phải mình, mà là viên đan này, hạt giống này, còn mình nảy nở xung quanh nó. Ngay cả lúc này, khi cái lạnh len vào quanh người, nó cũng cảm thấy viên đạn chọc ra từ trong ngực, làm cái áo len của nó hơi nhô lên. Nó lần tìm chỗ gồ đó, nhưng như mọi khi, không thấy gì cả. Nó lặn rồi, thằng nhóc nghĩ. Nó muốn ở bên trong mình. Nó không là gì nếu không có mình. Bởi vì một viên đạn không ghim vào cơ thể nào cũng giống một bài hát không có người nghe.
(tr. 99)
.
Mẹ à, mẹ từng nói với con ký ức là lựa chọn. Nhưng nếu mẹ là Chúa, mẹ sẽ biết ký ức là cơn lũ.
(tr. 101)
.
Từ tiếng Anh được nói thường nhất ở tiệm móng là sorry - xin lỗi. Đó là điệp khúc duy nhất cho đời làm việc trong dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Trước mắt con, hết lần này tới lần khác, các thợ làm móng cúi người trước bàn tay hay bàn chân của một người khách, nhỏ nhất chỉ mới bảy tuổi, mà nói, "Xin lỗi. Xin lỗi. Vô cùng xin lỗi," trong khi họ không làm gì sai. Con đã thấy những người thợ, cả mẹ nữa, xin lỗi hàng chục lần trong suốt bốn mươi lăm phút làm móng tay, hy vọng tạo được chút thiện cảm để nhằm đến cứu cánh là một khoản boa - để rồi lại tiếp tục nói xin lỗi cả khi không nhận được gì.
Trong tiệm móng, xin lỗi là công cụ dùng để nịnh nọt cho tới khi chính từ đó trở thành một thứ tiền tệ. Nó không còn chỉ mang nghĩa mong tha thứ, mà còn là nài nỉ, nhắc nhở: Tôi ở đây, ngay đây, bên dưới ông/bà. Nó là khi ta hạ bản thân mình xuống để khách hàng thấy mình đúng, mình thượng đẳng và nhân từ. Trong tiệm móng, định nghĩa xin lỗi của ta bị biến đổi thành một từ hoàn toàn mới, một từ được tích thêm nghĩa và bị tái sử dụng vừa như một quyền năng vừa như một cách làm mát mặt mình. Lời xin lỗi đem lại tiền; lời xin lỗi, ngay cả khi ta không có lỗi, hay nhất là khi ta không có lỗi, xứng đáng với từng tiếng hạ mình mà miệng ta có thể thốt ra. Vì cái miệng phải ăn.
Thế nhưng không chỉ tiệm móng mới thế đâu mẹ. Ở những cánh đồng cây thuốc lá, bọn con cũng nói điều tương tự. "Lo siento," Manny thường nói, mỗi khi đi ngang tầm mắt Buford. "Lo siento," Rigo thường thì thầm, khi với tay cất lại con dao rựa lên bức tường nơi Buford đang ngồi đánh dấu các số liệu trên tấm bảng kẹp giấy. "Lo siento," con thường nói với ông chủ, sau khi lỡ một ngày công vì ngoại Lan lại lên cơn, nhét hết quần áo của ngoại vào lò nướng bảo phải xóa hết "bằng chứng". "Lo siento," bọn con nói một ngày nọ, khi màn đêm buông xuống mà cánh đồng chỉ mới thu hoạch được một nửa, còn chiếc xe kéo, động cơ chết ngắc, thì đứng trong bóng tối im lìm. "Lo siento, señor," từng người bọn con nói khi đi qua chiếc xe tải đang phát nhạc Hanks Williams ầm ĩ, Buford ngồi bên trong nhìn ra đồng cây héo hon của mình, trên bảng điều khiển xe dán tấm hình Ronald Reagan to cỡ lòng bàn tay. Và hôm sau đó, bọn con bắt đầu ngày làm việc không phải bằng câu "Chào buổi sáng" mà là bằng "Lo siento". Âm thanh tựa tiếng bốt đạp bùn, lún xuống, rồi nhấc lên. Bùn lầy trơn nhẵn thấm ướt lưỡi khi bọn con xin tha thứ để được tiếp tục làm việc kiếm sống. Hết lần này tới lần khác, con viết cho mẹ mà hối hận vì cái lưỡi của mình.
Con nghĩ về đám đàn ông mồ hôi đầm đìa, cười đùa hát ca bên cạnh con giữa mênh mông cây thuốc lá. Về George, chỉ cần một ngàn đô nữa, chừng hai tháng làm việc, là có thể mua được cho mẹ mình căn nhà ngoại ô Guadalajara ở quê hương Mexico. Về Brandon, chuẩn bị tiễn con gái mười sáu tuổi Lucinda lên Mexico City học đại học để trở thành nha sĩ, như ước mơ từ bé của cô. Về Manny, chỉ một mùa thu hoạch nữa thôi là sẽ trở lại ngôi làng ven biển ở El Salvador, sẽ được chạm tay lên vết sẹo trên xương đòn của mẹ anh ta, nơi một khối u lúc đó vừa được cắt đi nhờ tiền lương anh ta kiếm được từ chặt cây thuốc lá trên đất Conneticut. Rồi anh ta sẽ dùng phần tiết kiệm còn lại mà mua một cái thuyền, và thử vận may bằng cách đi đánh bắt cá cờ kiếm. Xin lỗi, với những người này, là cuốn hộ chiếu để được ở lại.
Hết ngày làm việc, cái áo ba lỗ trắng của con dơ hầy những đất và mồ hôi, không khác nào con ở trần trong lúc dắt chiếc xe đạp ra khỏi nhà kho. Những ngón tay nhớp và rát nắm lấy ghi đông, con đẩy chiếc Huffy bạc đi trên con đường phủ đầy bụi đất, qua khỏi những khoảng thênh thang trống trải trước đó từng mọc đầy cây, mặt trời rực lửa treo thấp trên những ngọn cây. Và con nghe tiếng họ sau lưng, rạch ròi như các đài trên radio. " ¡Hasta mañana, Chinito!" " ¡Adios, muchacho!" Và con biết tiếng nào là của ai. Không cần ngoảnh lại, con cũng biết Manny đang vẫy tay, ngày nào cũng vậy, bàn tay ba ngón rưỡi tối thẫm trên nền trời cuối ngày.
Điều con muốn nói với họ, lúc con đạp xe đi, và lúc sáng hôm sau, sáng hôm nào cũng vậy, là điều con muốn nói với mẹ lúc này: Xin lỗi. Vì họ phải thật lâu nữa mới có thể thấy lại người thân, vì trong số họ một vài người có thể sẽ không sống sót vượt qua sa mạc biên giới mà trở về nhà, giữa đường đổ gục vì mất nước và nắng nóng hoặc mất mạng vì các băng đảng ma túy hay đám dân quân chống ma túy cánh hữu ở Texas và Arizona. Con muốn nói, Lo siento. Nhưng không thể. Vì tới khi đó chữ xin lỗi của con đã kịp biến thành một thứ gì đó khác. Nó đã trở thành một phần của tên con - không thể thốt ra mà không trả giá.
Đó là lý do con nói "xin lỗi" khi người con trai đó đến bên con một buổi chiều, người sẽ thay đổi những gì con biết về mùa hè, biết một mùa có thể mở ra sâu đến chừng nào khi ta từ chối theo ngày tháng bước ra khỏi nó. Người con trai đã cho con biết được có thứ còn tàn nhẫn và tuyệt đối hơn cả lao động - ham muốn. Tháng Tám đó, trên cánh đồng, chính cậu là người bước vào tầm mắt của con. Gần cuối ngày, con cảm thấy có một người làm công khác bên cạnh, nhưng vì mải đắm trong nhịp điệu ngày thu hoạch, con không thể ngừng tay nhìn người đó. Bọn con nhặt cây trong khoảng mười phút, sự hiện diện của cậu rõ nét dần bên tìa tầm nhìn cho tới khi cậu bước ra trước mặt con lúc con đang khom mình nhặt một thân cây héo. Con ngước nhìn cậu, hơn con một cái đầu, khuôn mặt lem nhem mà xương xương thanh tú, một cái nón sắt của lính chụp trên đầu, đội hơi lệch ra sau, như thể cậu vừa bước ra từ một câu chuyện của ngoại lan, bước vào giờ khắc của con, và không hiểu sao lại mỉm cười.
"Trevor," cậu nói, thẳng người lên. "Minh là Trevor." Về sau con mới biết cậu là cháu nội Buford, tới làm việc ở trang trại để tránh ông già nghiện vodka của cậu. Và bởi vì con là con của mẹ, con nói, "Xin lỗi." Bởi vì con là con của mẹ, lời xin lỗi ấy, khi đó, đã trở thành một phần nối dài của con. Đó là cách con Xin chào.
(tr. 117 - 121)
.
Con thấy màu sắc, mẹ à. Phải, con cảm thấy được màu sắc khi con ở cùng cậu. Không phải từ ngữ, mà những mảng tối, những vùng nửa tối.
Có lần, bọn con đậu xe tải bên lề một con đường đất và ngồi tựa vào cửa ghế tài xế, nhìn ra đồng cỏ. Chẳng mấy chốc chiếc bóng của bọn con trên vỏ ngoài màu đỏ của chiếc xe di chuyển và nở xòe, như những bức graffiti màu tím. Hai cái hamburguer Whopper gấp đôi phô mai đang phơi cho ấm trên mui xe, lớp giấy gói kêu lách tách. Mẹ có bao giờ cảm thấy màu sắc tràn vào mình khi miệng một người con trai tìm thấy mẹ không? Nếu cơ thể chẳng là gì ngoài nỗi khát khao có một cơ thể? Máu đổ về tim chỉ để lại bị đẩy trở ra, lấp kín đường nó đi qua, những ống dẫn trước đó còn trống rỗng, hàng dặm đường cần đi để đưa ta đến với nhau. Tại sao khi con vươn tới cậu, bàn tay lơ lửng giữa chừng không, con lại cảm thấy là mình còn hơn cả khi đã chạm được vào cậu?
Lưỡi của cậu lướt trên tai con: màu xanh rút ra từ lá cỏ.
Hamburger bắt đầu bốc khói. Chúng con mặc kệ.
(tr. 136 - 137)
.
Con tắt vòi sen, và thay vì lau người rồi mặc quần áo trước khi hơi nước trên mặt gương tan đi như mọi lần, con nán lại. Vẻ đẹp của con được tiết lộ cho con hoàn toàn là một sự tình cờ. Con đang mơ, về ngày hôm trước, về Trevor và con ở băng sau chiếc Chevy, và con đã đứng trong bồn tắm rất lâu sau khi nước tắt. Đến lúc con bước ra, thằng bé trước gương khiến con sửng sốt.
Nó là ai? Con chạm vào gương mặt, cái má vàng ửng của nó. Con lần rờ lên cổ mình, búi cơ chạy thuôn xuống xương đòn gồ lên thành cờ cứng hai bên. Những rẻ xương sườn vêu vao hõm sâu, trên đó làn da cố lấp đầy những khoảng trống hình thù không đều, bên dưới là trái tim nhỏ bé buồn bã rung động như một con cá dính bẫy. Cặp mắt không đều nhau, một bên mở quá lớn, bên còn lại thì thẫn thờ, mí hơi sụp xuống, cảnh giác trước bất cứ ánh sáng nào được trao cho nó. Mọi thứ con trốn tránh đều ở trong hình ảnh ấy, mọi thứ khiến con muốn được làm mặt trời, là thứ duy nhất không có bóng mà con biết. Vậy mà con vẫn nán lại. Con để cho tấm gương giữ lấy những khiếm khuyết đó - vì lần đầu tiên con cảm thấy chúng, trong lúc khô đi, không phải thiếu sót mà là được khao khát, được tìm kiếm và tìm thấy giữa một vùng đất rộng lớn không kém gì vùng đất mà con đã lạc lối bên trong từng ấy thời gian qua. Vì đặc tính của cái đẹp là nó chỉ đẹp bên ngoài nó. Nhìn thấy mình qua gương, con ngắm cơ thể mình như một người khác, một cậu bé đứng cách chừng một mét, vẻ mặt không thay đổi, thách làn da vẫn nguyên như thé, như thể mặt trời, đang lặn ngoài kia, đã chẳng hề đi đâu cả, chẳng hề đến Ohio.
Con có được cái mình muốn - một chàng trai bơi về phía con. Có điều con không phải bờ, mẹ à. Con là mảnh gỗ lênh đênh đang tìm cách nhớ lại mình vỡ ra từ đâu mà đến được nơi đây.
(tr. 137 - 139)
.
Và bọn con òa lên tiếng cười. Bọn con òa vỡ. Bọn con vỡ ra như thế, trong tiếng cười.
(tr. 139)
.
Cậu ấy yêu mình, cậu ấy không yêu mình, chúng ta được dạy nói câu này, trong lúc xé dần bông hoa tới lúc không còn lại bông hoa. Như vậy, đến được cái đích tình yêu là đến thông qua phá hủy. Ta muốn nói rằng, Hãy móc ruột gan tôi, tôi sẽ cho biết sự thật.
[…] Đôi khi chính việc được vỗ về lại giống như là bằng chứng cho thấy ta đã bị hủy hoại.
(tr. 153 - 154)
.
Bọn con hát, gần như gào lên lời ca khúc, gió bạt đi giọng cả hai. Họ nói bài hát có thể là cầu nối, mẹ à. Nhưng con thấy bài hát cũng là mặt đất mà chúng ta đứng. Và chúng ta hát, có lẽ để giữ mình khỏi rơi. Chúng ta hát, có lẽ để giữ lấy mình.
(tr. 161)
.
Vì các bà mẹ đều làm thế. Đều đợi. Đều đứng yên cho tới khi con mình thuộc về người khác.
(tr. 163)
.
Đôi lần, khi bất cẩn, con nghĩ sống sót là việc đơn giản thôi: mình chỉ cần cứ thế tiến tới với những gì mình có, hoặc những gì còn lại từ những gì mình được từ đầu, cho tới khi có sự thay đổi - hay tới khi mình nhận ra, rốt cuộc, là mình có thể thay đổi mà không biến mất, rằng tất cả những gì mình phải làm là chờ tới khi cơn bão đi qua mình và mình thấy - phải - tên mình vẫn còn gắn vào một sinh vật đang sống.
(tr. 174)
.
Ở đại học, đi lạc đề giữa một bài giảng về Othello, một vị giáo sư từng quả quyết rằng, theo ông thấy, người đồng tính nam đều mắc bệnh yêu bản thân từ trong bản chất, và thói tự luyến công khai thậm chí còn có thể là dấu hiệu đồng tính luyến ái ngầm ở những người đàn ông vẫn chưa chấp nhận "xu hướng" của mình. Ngay giữa lúc con ngồi tức tối trên ghế, ý nghĩ đó cũng không thôi đào sâu vào con. Có thể nào, bao nhiêu năm trước, con đã đi theo Gramoz ngoài sân trường đơn giản vì cậu là con trai, và do đó là tấm gương phản chiếu chính con?
Nhưng nếu là thế, thì sao lại không? Có khi ta soi gương không phải chỉ để tìm cái đẹp, dù có hão huyền đến đâu, mà để chắc chắn, dù đã rất rõ ràng, là ta vẫn còn đây. Rằng cơ thể bị săn lùng mà ta cư ngụ vẫn còn chưa bị hủy hoại, nạo bỏ. Thấy rằng mình vẫn là mình chính là một chốn ẩn náu mà những ai chưa từng bị phủ nhận thì không thể biết đến.
Con đọc được rằng trong suốt lịch sử cái đẹp luôn bắt người ta sao chép lại. Chúng ta nhân thêm bất cứ thứ gì cho chúng ta khoái cảm thẩm mỹ, dù là cái bình, bức tranh, ly rượu, hay bài thơ. Chúng ta sản sinh thêm vật đó để giữ nó, mở rộng nó qua không gian và thời gian. Nhìn ngắm thứ cho ta khoái cảm - một bức tranh tường, một dãy núi màu đỏ đào, một cậu con trai, nốt ruồi trên quai hàm cậu - tự thân điều đó đã là sao chép: hình ảnh được lưu giữ trong mắt, nhân thêm và gìn giữ nó. Soi mình trong gương, con sao chép chính mình cho một tương lai con có thể không tồn tại. […]
Không phải ngẫu nhiên đâu mẹ, mà dấu phẩy nhìn giống một thai nhi - cái nét cong đánh dấu sự tiếp diễn ấy. Chúng ta đều từng nằm trong bụng mẹ, và bằng toàn bộ cái tôi cong lại và lặng lẽ, thốt lên: thêm nữa, nữa, nữa. Con muốn quả quyết rằng việc ta đang sống đã là đủ đẹp đẽ đáng sao chép lại. Và thế thì sao? Cứ cho là con chỉ dùng được cuộc đời này vào một việc là nhân nó lên thêm nữa, thì sao?
(tr. 176 - 177)
.
Chính vào những lúc thế này, bên cạnh mẹ, con mới thấy ghen tị với từ ngữ, chúng làm được những điều ta chẳng bao giờ làm được - chúng kể được hết mọi thứ về bàn thân bằng cách chỉ cần đứng yên, bằng cách chỉ cần tồn tại. Tưởng tượng giá con có thể nằm xuống cạnh mẹ và cả cơ thể con, từng tế bào, tỏa ra một ý nghĩa đơn nhất, rõ ràng, không còn là một nhà văn mà chỉ là một từ được đặt xuống cạnh mẹ.
(tr. 212)
.
Con chưa bao giờ muốn xây dựng một "khối lượng (body) tác phẩm", mà chỉ muốn lưu giữ trong tác phẩm những cơ thể (body) này, của chúng ta, đang hít thở và không được kể đến.
(tr. 216)
.
Trong một thế giới muôn hình vạn trạng như thế giới của chúng ta, nhìn là một hành động độc nhất vô nhị: nhìn một thứ là đổ đầy nó vào cuộc đời ta, dù chỉ trong một thoáng. Có lần, sau sinh nhật tuổi mười bốn, khom người giữa băng ghế một chiếc xe buýt chở học sinh bỏ hoang trong rừng, con đổ đầy cuộc đời mình bằng một đường cocaine. Một chữ "I" màu trắng sáng lên trên lớp da bọc ghế tróc lở. Bên trong con, chữ "I" đó trở thành một con dao bấm - và có gì đó rách ra. Bụng con cuộn lên nhưng đã quá trễ. Chỉ trong mấy phút, con đã nhân chính mình lên. Tức là phần quái vật trong con lớn phổng tới nỗi, thân thuộc tới nỗi, con có thể ham muốn nó. Con có thể hôn nó.
Sự thật là không ai trong chúng ta đủ để được gọi là đủ. Nhưng điều này mẹ biết rồi.
Sự thật là con đến đây mong tìm được lý do ở lại.
Đôi khi những lý do ấy thật nhỏ bé: cách mẹ phát âm "spaghetti" là "ba ghét đi".
Đã vào cuối mùa - tức là những bông hồng mùa đông, nở rộ dọc ngân hàng nhà nước, là những lá thư tuyệt mệnh.
Nhớ viết lại câu ấy.
Người ta nói không gì sống mãi nhưng họ chẳng qua sợ nó sẽ sống lâu hơn tình yêu họ dành cho nó.
Mẹ có đó không? Mẹ còn đi chứ?
Người ta nói không gì sống mãi và con đang viết cho mẹ bằng giọng của một loài có nguy cơ tuyệt chủng.
Sự thật là con lo họ sẽ bắt được (get) chúng ta trước khi hiểu được (get) chúng ta.
Nói cho con hay đau ở đâu. Con hứa sẽ ghi lời mẹ.
(tr. 217 - 218)
.
Vấn đề là, con không muốn nỗi buồn của mình trở nên khác loại với bản thân cũng như con không muốn niềm vui của mình trở thành khác loại. Cả hai cảm xúc đó, chúng đều là của con. Khốn kiếp, con tạo ra chúng mà. Nếu niềm hân hoan mà con cảm thấy không phải là một cơn "rối loạn lưỡng cực" khác mà là một thứ con đã phải tranh đấu thật nhiều mới có thì sao? Biết đâu con nhảy tưng tưng và hôn quá mạnh lên cổ mẹ khi mẹ về nhà và phát hiện tối nay ăn pizza là bởi vì đôi khi một tối ăn pizza cũng là quá đủ, là ngọn đèn mong manh mà đáng tin cậy nhất của con. Nếu con đang chạy ngoài đường bởi vì mặt trăng tối đó to như trong cuốn sách thiếu nhi và trông thật ngộ nghĩnh bên trên hàng thông, và chỉ cần nhìn thấy nó thì cũng như xơi một viên thuốc lạ thật là tròn trịa, thì sao?
Giống như bao lâu nay tất cả những gì ta nhìn thấy được ở trước mặt là mép vực, và rồi từ đâu cây cầu sáng rực này xuất hiện, và ta chạy thật nhanh qua đó, biết rằng trước sau gì sẽ lại có một mép vực khác ở đầu bên kia. Nếu nỗi buồn của con thực chất là người thầy tàn nhẫn nhất mà con có thì sao? Và bài học rút ra vẫn trăm lần như một: Ta không nhất thiết phải giống bọn trâu. Ta vẫn có thể dừng lại.
(tr. 224 - 225)
.
Trong tiếng Việt, nhớ nhung một người và nhớ được một người đều có chung chữ nhớ. Đôi khi, trong lúc gọi điện, mẹ hỏi con, Con nhớ mẹ không? Con giật mình, tưởng rằng mẹ hỏi, Con còn nhớ mẹ không?
Con nhớ mẹ nhiều hơn những gì con nhớ về mẹ.
(tr. 230)
.
Họ sẽ nói với mẹ rằng phát biểu về chính trị thì chỉ đơn thuần giận dữ, và do đó phi nghệ thuật, thiếu chiều sâu, "sống sượng", và trống rỗng. Họ sẽ nói về quan điểm chính trị với vẻ xấu hổ, như thể nói về ông già Noel hay Thỏ Phục sinh.
Họ sẽ nói với mẹ rằng những trang viết vĩ đại "thoát ly" khỏi chính trị, do đó "vượt qua" giới hạn của khác biệt, gắn kết mọi người lại đưa về chân lý chung. Họ sẽ nói điều này đạt được qua kỹ thuật là trên hết. Để xem nó được viết ra thế nào, họ sẽ nói - như thể cách một thứ được chắp lại thành hình lại tách rời hoàn toàn với cái thôi thúc đã tạo ra nó. Như thể cái ghế đầu tiên được đóng mà không cần cân nhắc tới hình dáng con người.
Con biết. Bất công thay khi từ laughter (tiếng cười) bị mắc kẹt bên trong slaughter (sát sinh).
Ta sẽ phải mổ banh nó ra, mẹ con mình, như một con nai mới sinh, đỏ hỏn và run rẩy, được nhấc ra khỏi mẹ nai vừa bị bắn chết.
(tr. 230 - 231)
.
Mẹ hỏi con làm nhà văn là như thế nào và con toàn nói loạn cả lên, con biết. Nhưng thật sự là rất loạn mẹ à - con không dựng chuyện lên đâu. Con chỉ hạ câu chuyện xuống. Viết là thế, sau toàn bộ những điều vớ vẩn, là xuống thấp tới nỗi thế giới rủ lòng cho ta một góc nhìn mới, một cảnh tượng lớn hơn gồm những điều nhỏ bé, chút bụi vải bỗng hóa thành màn sương khổng lồ bao kín mắt mình. [...]
Nghệ thuật là như thế sao? Được chạm vào và nghĩ rằng cái ta đang cảm thấy đây thuộc về ta, trong khi, đến cuối cùng, chính là người khác, đã tìm thấy ta, trong cơn khao khát?
[...]
Sự thật là ký ức vẫn chưa quên chúng ta.
Một trang, lật đi, là một cánh cất lên mà không có cánh còn lại, và do đó không thể bay. Vậy nhưng (lòng) chúng ta vẫn động.
.
Trong khi dọn tủ đồ một buổi chiều con tìm thấy một viên kẹo Jolly Rancher trong túi cái áo khoác Carhartt cũ. Viên kẹo từ chiếc xe tải của Trevor. Cậu lúc nào cũng bỏ kẹo trong khay đựng ly nước. Con gỡ vỏ ra, cầm viên kẹo giữa các ngón tay. Ký ức về giọng nói của bọn con nằm bên trong nó. “Kể cho tao nghe mày biết những gì đi,” con thì thầm. Nó bắt trúng ánh sáng từ cửa sổ như một viên ngọc cổ xưa. Con đi vào tủ đồ, đóng cửa lại, ngồi xuống trong bóng tối mịt mùng và đặt viên kẹo trơn nhẵn mát lạnh vào miệng. Mùi táo xanh.
Con không ở bên mẹ vì con đang chiến đấu với mọi thứ trừ mẹ ra.
Một người bên cạnh một người bên trong một đời. Ta gọi đó là đẳng lập. Ta gọi đó là tương lai.
Mình gần tới rồi.
Cái con đang kể mẹ đây không hẳn là một câu chuyện mà giống một xác tàu đắm hơn - từng mảnh vỡ nổi trôi, cuối cùng cũng trở nên đọc được.
Vòng qua khúc cua đi, qua biển báo dừng thứ hai dưới chân sơn xịt màu trắng chữ “Thù”. Đi tới căn nhà màu trắng, mặt bên trái xám ngoét như than vì khói xăng bốc ra từ bãi phế liệu bên kia cao tốc.
Kia là cửa sổ ở tầng trên, ở đó, một đêm nọ hồi còn nhỏ, con thức giấc vì cơn bão tuyết bên ngoài. Con khi đó mới lên năm hay sáu và không biết rằng mọi thứ đều có kết thúc. Con tưởng rằng tuyết sẽ rơi mãi cho tới vạch trời - rồi lên nữa, tới ngón tay của chúa đang ngủ gục trên ghế đọc sách, những phương trình trải khắp sàn thư phòng. Rằng đến sáng chúng ta sẽ được gói lại trong một cái tĩnh lặng màu trắng xanh và không ai phải ra đi cả. Không bao giờ.
(tr. 235 - 237)
.
Ta từng ra sao trước khi ta trở thành ta lúc này? Ta hẳn đang đứng bên vệ đường đất trong khi thành phố rực cháy. Ta hẳn đang biến mất, như ta lúc này.
Có lẽ kiếp sau ta sẽ gặp lại nhau lần đầu tiên - tin vào mọi thứ trừ nỗi đau ta có thể gây ra. Có lẽ ta sẽ trái ngược với đàn trâu. Ta sẽ mọc cánh và trào ra vách núi như một thế hệ bướm vua, đi về nhà. Mùi táo xanh.
Như tuyết che phủ những gì cá biệt của thành phố, họ sẽ nói ta chưa từng có, rằng sự sống sót của ta là một truyền thuyết không có thật. Nhưng họ sai rồi. Chúng mình, mình có thật. Mình cười, biết rằng niềm vui sẽ xé toạc những vết khâu trên môi.
Hãy nhớ lấy: Các quy tắc, cũng như đường đi, chỉ có thể đưa ta tới những nơi đã được biết đến. Bên dưới lưới tọa độ là một cánh đồng - nó vẫn luôn có đó - ở đó lạc lối không bao giờ là sai, mà đơn giản là nhân thêm.
Quy tắc là, hãy nhân thêm.
Quy tắc là, con nhớ mẹ.
Quy tắc là, “con” lúc nào cũng nhỏ hơn “nhỏ”. Đừng hỏi con tại sao.
Con xin lỗi vì không gọi điện thường.
Mùi táo xanh.
Con xin lỗi vì cứ hỏi Mẹ khỏe không? trong khi con thực sự muốn hỏi là Mẹ có vui không?
Nếu mẹ thấy mình mắc bẫy trong một thế giới tối dần, hãy nhớ rằng lúc nào cũng tối như thế này bên trong cơ thể. Nơi trái tim, như mọi quy luật, chỉ ngừng lại cho người sống.
Nếu mẹ tìm thấy mình, thì xin chúc mừng, bàn tay mẹ được quyền giữ lấy.
Quẹo phải vào đường Risley. Nếu mẹ quên con, thì mẹ đã đi quá xa. Hãy quay lại.
Chúc mẹ may mắn.
Chúc mẹ ngủ ngon.
Chúa ơi, mùi táo xanh.
(tr. 236 - 238)
.
Con hỏi ngoại nghĩ gì. Như thể vừa thức giấc khỏi một cơn mơ lúc tỉnh, ngoại trả lời bằng một giọng đều đều, kiệt quệ. “Ngoại từng là một cô bé đó, Chó Con à. Con biết không?”
“Dạ, ngoại, con biết…” Nhưng ngoại không nghe.
“Ngoại từng cài hoa lên tóc bước đi dưới nắng. Mưa lớn xong, ngoại đi dưới nắng. Hoa cài trên tai. Thật ướt, thật mát.” Mắt ngoại trôi về xa xăm. “Thật là ngớ ngẩn.” Ngoại lắc đầu. “Ngớ ngẩn. Làm con gái.” Sau một lúc, ngoại quay về phía con như thể nhớ ra con ở đó. “Con ăn chưa?”
(tr. 243)
.
Chúng ta đã trở thành gì với nhau nếu không phải là điều chúng ta đã làm với nhau?
(tr. 253)
.
Con nhận ra, chính cái đẹp là thứ chúng ta liều mình giành lấy.
(tr. 256)
.
Con ngồi đó, trong lúc mẹ và bác Mai, không chút do dự, bắt tay vào việc, cánh tay mẹ chuyển động trên cơ thể bất động của ngoại. Con làm điều duy nhất con biết. Co chân sát ngực, con bắt đầu đếm những ngón chân tím của ngoại. 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5. Con đu đưa người theo các con số trong lúc bàn tay mẹ lơ lửng trên thân ngoại, thành thạo như thể y tá đi buồng. Dù có bao nhiêu vốn từ, sách vở, kiến thức, con vẫn thấy mình gập người sát bức tường phía xa, tan nát. Với sự trì trệ sánh ngang trọng lực, con nhìn hai người con gái chăm lo cho ruột thịt của mình. Con ngồi, với mọi giả thuyết, ẩn dụ và phép tính, Shakespeare và Milton, Barthes, Đỗ Phủ và Homer, những bậc thầy về cái chết, rốt cuộc, cũng không thể chỉ con cách chạm vào người chết của mình.
(tr. 258)
.
Vì sống trong vùi dập là điều đã được hiểu, đã được coi là đương nhiên, đó là lớp da ta mang sẵn trên người. Hỏi Tốt chớ hả? chính là, ngay lập tức, chuyển tới niềm vui. Đó là gạt sang bên điều không thể tránh khỏi để chạm tới thứ trái lệ thường. Không vĩ đại, cũng không xuất sắc hay là tuyệt vời, chỉ là tốt thôi. Vì tốt thường đã là quá đủ, là một tia lửa quý báu chúng ta tìm và nhặt về từ nhau và cho nhau.
Ở đây, tốt là tìm được một đồng đô la mắc kẹt dưới đường cống, là khi vào sinh nhật ta mẹ ta có đủ tiền để thuê một bộ phim với mua một cái pizza năm đô từ quán Easy Frank’s và cắm tám cây đèn cầy lên lớp pepperoni cùng phô mai tan chảy. Tốt là khi biết có bắn nhau mà anh trai ta lại về được nhà, hay vẫn đang ngồi bên cạnh ta, đang tấn công một tô nui ống phô mai.
(tr. 264)
.
[...] Và có lẽ mọi cái tên đều chỉ là ảo ảnh. Bao nhiêu lần ta đặt tên cho thứ gì đó theo trạng thái ngắn ngủi nhất của nó? Bụi hồng, mưa, bướm, rùa đớp, đội hành hình, tuổi thơ, cái chết, tiếng mẹ đẻ, mẹ, con.
(tr. 265)
.
Suốt thời gian qua con tự nhủ mẹ con mình sinh ra từ chiến tranh - nhưng con đã nhầm rồi mẹ à. Mình sinh ra từ cái đẹp.
Đừng để ai nhầm chúng ta là trái quả sinh ra từ bạo lực - mà hãy để họ biết rằng thứ bạo lực đó, dù đã can qua quả, vẫn không làm hỏng được nó.
(tr. 283)
.
“Nè,” cậu ngái ngủ nói, “trước khi gặp mình thì cậu thế nào?”
“Mình nghĩ mình đang chết chìm.”
Ngừng.
“Và giờ thì cậu sao?” cậu thì thầm, chìm xuống.
Con nghĩ một giây. “Mình là nước.”
(tr. 290)
.
Để rực rỡ, trước tiên mình phải được nhìn thấy, nhưng được nhìn thấy cũng tức là cho phép bản thân trở thành con mồi.
"Cái chết là ngọn hải đăng duy nhất sáng mãi, dù ta có cho thuyền đi về hướng nào, cuối cùng cũng đều quay về hướng có nó gọi về. Tất cả đều sẽ chết đi, chỉ có Tử Thần sống mãi."
Anya is live and ready to show you everything. Watch her strip, dance, and perform exclusive shows just for you. Interact in real-time and make your fantasies come true.
✓ Live Streaming✓ Interactive Chat✓ Private Shows✓ HD Quality
Anya is LIVE right now
FREE
Free to watch • No registration required • HD streaming
Reposted from @carlosbaerga09 Mi gente 🔥🔥🔥🔥🔥🔥🔥🔥🔥🔥🔥🔥 Ponte tu camisa, educa y pide el retiro del número 21 de Roberto Clemente Walker este miércoles, usando #retire21 #robertoclemente #rc21 #clemente #clementeday #robertoclementeday #pittsburgh #pirates #carolina #puertorico🇵🇷 #tabdeportes #comunidad21 #laestocada @puertoricanflagsup #PrFlagsUp #puertoricanflagsup https://www.instagram.com/p/CE64bL5p8Oy/?igshid=1jqxb266wknkd
CFP News: CFP: RC21 Stream (S6) on The Urban Spectre of 'Global China' and ...
CFP News: CFP: RC21 Stream (S6) on The Urban Spectre of ‘Global China’ and …
CFP: RC21 Stream (S6) on The Urban Spectre of 'Global China' and … Happy to announce this call for papers for a stream that I am organizing with two
of my excellent former PhD students. We have been developing this particular …
See full article.
— Delivered by Feed43 service
View full call or article at Call for Papers – Urban Journals
Dipesh Chakrabarty's seminal Provincializing Europe (2000) fundamentally exposed the limits of European enlightenment in fully understanding global transformations of power imbalances, and the book has been highly influential across the
Our CALL FOR PAPERS, for ISA-RC21 Annual Conference "In and Beyond the City" | Delhi, September 18-21, 2019
SESSION: Provincializing European Cities: Theoretical and Empirical Interventions
Dipesh Chakrabarty's seminal Provincializing Europe (2000) fundamentally exposed the limits of European enlightenment in fully understanding global transformations of power imbalances, and the book has been highly influential across the humanities and social sciences. Relatedly, debates in Urban Studies over the last fifteen years have highlighted the necessity of moving away from West-centric urban theory, and engaging with typically "off-the-map" cities, primarily cities in the Global South. However, neither Chakrabarty's claim, nor recent theoretical shifts in urban studies have to date had a significant impact on established theories of European cities that still primarily rely on Weber's The City, and typically leave not only colonialism and the construction of race
but also postsocialist contexts, such as Eastern Europe, off the map.
Largely inspired by the postcolonial location of the 2019 RC21 conference and the theme of "Emerging Ontologies", this stream aims to bring together emerging postcolonial, decolonial, critical race and other global perspectives on any aspect of Eastern and/or Western European cities, including, among others, urban governance, segregation, migration, urban political economy, geography, history and culture. We welcome theoretical and empirical studies addressing the following and related questions:
To what extent are contemporary theories of and approaches to cities in Europe valuable for understanding urban transformations in the continent from global perspectives? What can postcolonial, decolonial and more generally critical race approaches contribute to a more global and comparative understanding of European urbanities today? How could concepts such as internal colonialism and settler colonialism contribute to understanding cities in Europe today? How are ideas of European Cities translated into other non-European contexts?
ABSTRACT SUBMISSION
The deadline is January 20, 2019. Please follow the instructions at this link:
https://rc21delhi2019.com/index.php/call-for-abstracts/
Session convenors:
Dr Noa Ha, Research Group Director, Centre for Integration Research, Technical
University of Dresden, Germany. noa.k.ha_AT_tu-dresden.de.
Dr Giovanni Picker, Lecturer in Sociology, University of Glasgow, UK.
giovanni.picker_AT_glasgow.ac.uk.